You are currently browsing the category archive for the ‘Bùa phép’ category.

>

Ông nầy nguyên người làng Toàn Đông, huyện Bảo An, phủ Từ Sơn, tinh Bắc Ninh. Cha ngài là Nguyên Lê vốn là một pháp sư lừng danh, không có còn trai nói dõi, ông cầu nguyện đức Phật và nhiều quyền lực tôn giáo khác để can thiệp với Ngọc Hoàng. Vị thần tối cao liền cho xuống trần một vị thần vào đầu thai trong nhà và làm con của Nguyên Lê.
Người ta đặt tên Ngài là Nguyên Độc, tới 10 tuổi, cậu bé Độc đã biết thành thạo về nghệ thuật phù phép và có thể thực hiện được những gì cậu đã vì bốc đồng tình cờ mà làm ra. Một ngày kia, cậu đánh trống và làm những động tác triệu thỉnh chung chung, khiến động thấu đến thiên đình và vang động khắp bốn phương nhân gian.Ngọc Hoàng không chịu nổi nhungchan động quái gở như vậy, nên Ngài liền phái xuống trần một vị “Chu Tử” (mặc quần áo đỏ) thuộc dạng một sĩ quan tùy viên để đi lấy tin tức về sự náo đồng kia. Viên sĩ quan này, noi theo các tiếng động, xuống tới nhà của Nguyên Lê và thay vì gặp ở đó như điều ông dự kiến là một đám đông ồn ào, hỗn độn dữ dội, ông lại chỉ thấy có một mình cậu bé Nguyên Độc ở đó, cậu lại đang bình thản ngủ vùi. Lợi dụng dịp may hiếm có, vị thần áo đỏ rút gươm ra, chém một nhát, chặt đôi thân thể cậu bé, ông mang một phần thân thể về trình Ngọc Hoàng. Sau đó ông Nguyên Lê vừa trở về nhà, nhìn thấy con bị chém đứt làm hai, vô cùng hoảng hốt, ông ôm chầm phần còn lại của đứa con mà đi chôn. Sau 100 ngày, ông lao vào đủ các cuộc cúng tế, nguyện cầu và sử dụng phù chú, ông gặp lại đứa con bị chém của mình.Cậu bé sống lại, lành hẳn các vết thương và còn khỏe mạnh hơn cả trước kia. Cậu bé tìm cho mình những kiếm, gươm, cờ và gậy phép và từ đó cậu có được các quyền lực phi thường. Danh tiếng của cậu liền được truyền rao xa xa, nên từ đó cậu được tôn vinh là tổ sư vua la vị tổ bảo hộ cho tất cả các pháp sư.
Việc thờ cúng các vị thần này thật giản đơn và các nghi thức pháp thuật hiện tôi đang có trong tay không khác mấy, vào chi tiết, với các lễ lộc phụng cúng dành cho các vị thần này. Người thấy bùa phải ” cầu nguyện cả ngày lẫn đêm và dâng cùng lễ vật vào những ngày mùng 1 và ngày 15( ngày rằm) của mỗi tháng” . Muốn cúng bái, mỗi pháp sư đều có sẵn trong nhà một bàn thờ, thường thường ít trang hoàng diêm dúa, đặt trong cái am nhỏ, cất riêng biệt. Trên bàn thờ có các hình vẽ và các tượng bằng giấy ít khi làm bằng gỗ, của Phật, Ngọc Hoàng, Lão Quân, của Tam Danh và Độc Cước. Các tượng này xếp hàng theo cấp bậc trên các bệ có độ cao thấp khác nhau, theo thứ tự, như tôi vừa kể. Rồi tới các linh thần thứ cấp, như các Hộ Pháp, như các vị Thiên Sứ giữ gìn bảo về pháp luật. Các vị này được giao trọng trách truyền mệnh lệnh của chư thần. Trước bàn thờ, có các lư hương, các đỉnh trầm hương và tất cả các phụ tùng thường dùng trong việc thờ cúng. Chính tại đây, ông thầy bùa mỗi ngày đến cầu nguyện và làm bùa chú. Trên một chiếc bàn thấp hơn, vào những ngày hiến tế, ông đặt các phẩm vật cúng : cơm, rượu, cau và trầu, gà, hoa trái, bó vàng giấy và bạc giấy.,v.v… Các ngày cúng diễn ra vào các ngày đầu tháng ( tuần trăng mới =30, mồng một hàng tháng) và ngày trăng tròn ( 15 mỗi tháng âm lịch). Đây chính là những ngày nguy của người Việt xưa và nay vì là ngày hàng tháng bà Nguyệt (trăng) kết duyên với mặt trời. Ngày mồng một đầu tháng chính là ngày mặt trăng nhú ra khỏi các tia nắng tàn tạ của mặt trời lặn, và mặt nguyệt mới nhận được nguyên lý sáng đầu tiên để lớn dần lên tới ngày 15 rồi giảm bớt đi vào cuối tháng và đuoc sáng trở lại vào tháng kế tiếp.Như vậy, mặt trăng trở thành biểu tượng của nguyên lý âm và từ đấy, cùng chia sẻ với nữ giới ảnh hưởng mầu nhiệm của nguyên lý âm, mà người ta gán hẳn cho vầng nguyệt. Mặt khác, mặt trăng như vậy đương nhiên được mời gọi đóng vai trò trọng yếu trong pháp thuật mà các lễ tục thường thường được thực hiện về đêm, vào lúc trăng vừa xuất hiện. Chính vì các lý do này mà những ngày 1 và 15 trong tháng âm lịch đều đặc biệt được chỉ định để tổ chức các cuộc cúng kiến dành cho các Thánh tổ của phù chú.


Có 1 thuyết khác về Độc Cước như sau.

Chuyện kể rằng thời xưa có một bọn quỷ mũi đỏ đến vùng biển Sầm Sơn làm hại dân lành. Có một chú bé mồ côi cha vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã lớn nhanh như thổi và trở thành người khổng lồ. Chàng khổng lồ đánh thắng bọn quỷ ngoài biển, quỷ tràn vào đất liền cướp phá, nếu chàng ở trong đất liền thì quỷ lại phá ở ngoài khơi. Chàng nghĩ cách lấy búa tự xẻ đôi thân mình, một nửa thân và một chân đứng ngự trên đỉnh Sầm Sơn, một nửa thân và một chân theo bè mảng ra khơi hộ vệ dân chài. Từ đó, bọn quỷ vào bờ hay ra biển đều thấy chàng khổng lồ, chúng bỏ đi nơi khác kiếm ăn, không dám bén mảng đến vùng biển này nữa. Từ đó xuất phát tên gọi thần Độc Cước, nghĩa là ‘Một chân’.


( Theo Thế giới vô hình )

Võ Bùa hồi đó.

Lúc còn trẻ, con trai đa số thích học võ,
gần nhà có võ đường Hàn Lâm, dạy thái cực đạo, xích tới nữa có võ đường Lý Huỳnh Yến là lò của Lý Huỳnh,
vô hẻm thì có thiếu lâm bát quái quyền lò con, còn ra chợ lớn thì lò võ tàu, võ
ta vô số…, nhiều tới nổi đêm nào cũng thách đấu ở sân tỉnh vỏ Q5 tới tới u
đầu sức trán…
Lúc còn trẻ con trai ai cũng hào khí, 1 ,2 miếng lận lưng, chiều chiều
đứng dợt để lấy le con gái, ai thì không biết chớ mình lúc đó là vậy.
Lúc còn trẻ con trai hay tò mò tọc mạch, cái gì đã nghe thì muốn biết,
biết rồi muốn thử, thôi thì võ tay, võ ta, võ tàu… rồi tới võ Bùa…
   
Lúc tìm sinh kế ngoài đời, tình cờ có quen một anh thương binh nặng ký,
thấy giữa ngực anh có vết hỏm lớn cở nắm tay, hỏi thì anh nói:

 – Hồi
đó nhậu vô hứng chí căng đài với Mỷ đen ở đường Trần Quang Khải, bị nó tặng cho
kỷ niệm trước khi về xứ, kể cũng lạ, gãy xương hủm vào mà không chết, mình liền
ghẹo ảnh:
- Anh cũng có nghề Bình Định, sao không trả
miếng lại cho nó làm kỷ niệm? 
-Trời, nhờ thần quyền đỡ
lưng mà anh mới còn tới giờ đó em.
-Thần quyền là võ gì hả anh?
-Là võ Bùa đó, không cần đánh bao cát, hay
là luyện đinh tấn chảo mã gì hết, mà đã ra tay thì võ công tự phát, khỏi cần
suy nghĩ lôi thôi.
-Ủa, sao ngon vậy mà anh thê thảm?
-Em ạ, tại anh có lỗi, trái với lời thề, đâu
có tự vệ mà đi thách đấu, mới ra nông nổi này.
Vừa nói anh vừa để tay lên ngực chỗ hủm, mình thấy
lưng bàn tay ấy có nhiều vết xâm màu xanh chàm, không giống chữ
ta mà cũng chẳng ra chữ tàu, hỏi thì
anh nói đó là chữ Bùa, Bùa này bốn chữ
gọi là Tầm-Puôn, vô tay phép nảy ra đòn mạnh X2, đòn kế X3,… cứ vậy mỗi quả
có thể ngàn cân…? mình lần đầu mới nghe đã quá mê, liền năn nỉ anh truyền cho
mình võ Bùa.
-Ý đâu được, phải có thầy truyền đạo, mà anh
chỉ học sơ, biết đường đâu mà truyền cho em.
-Vậy thì để em vô chùa hay nhà thờ xin được
truyền đạo rồi anh dạy em hén.
-Đồ khùng, ai mà vô đó hỏi, hỏi rồi có nước
người ta đem mày vô nhà thương Biên Hoà luôn đó.
Mà cái tật lì của mình cuối cùng anh phải sợ luôn:
-Thôi thì vỏ không dạy được anh chỉ mày cái
Tầm-Puôn này, có khùng rán chịu nghe, đừng kiếm anh mà cắn.

 

-Kính cầu đức tổ Bili -no thô ngăn-ê hê săn
qua păn lăn, gia hộ đệ tử.
- Em cứ luyện cho điều mỗi
tối đủ 36 đêm, lấy lưỡi vẽ bùa bóng niệm chú, thổi vô lòng
bàn tay, mỗi tối lúc 19 giờ, lâu chừng 20 phút, đừng có bỏ ngày nào nghe.
-Rồi luyện xong sao em biết nó thành.

-Thì em kiếm cây Chuối nào lớn, vái xin tổ
rồi niệm chú tung đòn, biết liền chớ gì.
-Chớ xài với người hổng được sao anh?
-Được chớ, mà được như anh vậy nè. Vừa nói
anh vừa chỉ vô cái lỗ phế binh của ảnh.
-Thôi thôi mấy cái lỗ
của em là đủ xài tới già rồi, không cần thêm bất kỳ cái lỗ nào nữa đâu. Mà
còn chử 2,3,4 chừng nào chỉ em?
-Thằng này tham lam quá, lúc đó thành tài
rồi mày thử tao chắc chết quá, thôi tao trốn mày luôn, lúc đó qua Tà lơn tìm
ông Thầy tao mà học tiếp.
Mà quả là trốn thiệt luôn, từ lúc đó cho dòng chữ này Thanh không nghe, không thấy, không biết gì về ông
nữa,… duyên chỉ có bấy nhiêu…, mà không dễ bẻ lái cả
cuộc đời mình.
Tội cho cây chuối, không tội tình thù oán chi mà phải ăn đòn, một tuần
sau khi ăn Tầm-Puôn, nó chết vàng hết lá, người ta đốn nó, hy vọng là sẽ nhảy cây con, nhưng chẳng bao giờ còn thấy một chút mầm nào
lên trong cả năm trời, kể cũng lạ thiệt.
Rồi một ngày kia, Võ
thần đả tới tìm mình trong một vụ tào lao. Số là vì giành bãi
trống đá banh mà sanh chuyện đụng độ. Bên Thanh thì có 2 tên Karate, 1 tên
Vovinamvà 3 tên vô…loại, bên kia cũng có 3 em chắc là có nghề bước ra. Mà kìa,
lạ quá vỏ gì sao chưa đánh mà đã múa tùm lum, vờn gió, kéo giò, gầm gừ trợn
mắt, chỉ còn tròng trắng, làm sao thấy đường mà đánh? Cả 3 điều đồng một bộ.
Mình liền xáp vô dùng đòn chiến lược 1, xoè tay trái chém cổ, tay phải đồng thời thoi thẳng xuống ba sườn đối thủ (phải nói là chiêu này rất ăn tiền, đỡ cái trên dính liền cái dưới, với kết thúc là một cú đá chẻ
cạnh bàn vào giữa mặt đối thủ), mà nó không thèm mở mắt ngó, chỉ duổi bung hai
tay ra là hoá giải hai đòn đi chệch hướng rồi, y như nó
biết trước đòn mình vậy.
-Ủa, vậy thì chơi luôn, đánh theo phản xạ sẵn có, lúc đó búa xua, cũng không biết
mình ăn mấy đòn,thua mấy đòn… Đánh kiểu đó mới chút xíu mà đả thở rồi.
Tàn chiến cuộc với những mặt méo, đầu u từ
hai phía, kết quả là hoà, thoả thuận là
từ nay ai ra trước thì… phải đá với bên ra sau, vì đâu có đội nào đủ 11 mạng.
Đánh trước,biết sau,nhờ vậy mà quen, thì ra
họ học Ngủ Hổ Thần Quyền, lúc ra trận chỉ niệm chú, tự động quyền xuất, thân
phó cho…. trời, ý về trên…mây, đánh không cần lo thắng bại, con mắt lúc đó có
cũng như không, nhấm mở thây kệ, thật là khác dị so với các môn vỏ ở vỏ đường.
Và mấy chỗ nào mình trúng đòn của họ lát nữa điều hiện dấu
bầm ba chấm chụm lại, bất kể trúng đòn chi nào của họ.
Vậy là lân la tìm hỏi chỗ
học, lại bị từ chối phũ phàng, không bạn nào chịu chỉ chỗ học, chắc họ sợ mình tới phá thầy họ, hay là sợ mình học
được Bạch Hổ Quyền rồi sẽ đánh thắng… Hắc Hổ Quyền của họ chắc?
Và rồi cũng vì tham cả lố, mà lại vác thân
đi học Võ Tân Khánh Bà Trà. Ông thầy là một ông chủ tiệm se nhang, kiêm người
làm, kiêm bán nhang luôn, lại có lúc là ông thầy thuốc Nam, thuốc Bắc, kiêm
thầy Địa lý.
Ổng bán nhang cho bất kỳ ai, kẻ thiện người
ác có tiền cứ bán, không phân biệt. Và ổng cũng dạy võ cái kiểu đó, em nào có
đủ 36 tiền cứ vô học, đi ăn cướp hay đi tu về tiền lý lịch ổng chả cần quan tâm.
Cứ bán Võ với cái Tâm vô tư như Bán Nhang vậy. Ai có 36 tiền cứ vô học…
Ngay buổi tối đầu tiên, vừa vác mặt vô, đã
thấy nhiều sư Huynh la hét “như mấy Thằng bó” vì thầy lấy cây mây quất túi bụi
vào lưng, vào giò. Tự dưng mình thấy ớn lạnh muốn rút dù luôn… Tiền đã trao,
cháo chưa múc mà sao thấy toàn cù lẳng, chả lẻ bỏ cả tháng lương để ăn cái của
nầy sao???
Mà ông thần bất dung…. Run? Bổng lúc đó ổng
ngó ngay mình:
- Ê thằng này có nghề sẵn, muốn vô thử hả,
lại tao biểu.
Mình vừa bước tới vừa lo cung kính cái cây
roi trong tay ổng.
Ổng ồ cười.
- Không có sao đâu, vô lễ tổ đi, rồi tao cho
cái bùa Tứ Tung Ngũ Hoành, không có bỏ mạng bất tử đâu mà sợ.
Theo ổng vô bàn thờ tổ thì ổng thấp năm cây nhang, trên ấy là đức Phật
và năm ông Ngũ Công Vương Phật, ổng quay lại nạt:
-Quỳ xuống.
Một tay đè vai mình còn tay kia nắm ấn Tý vẽ Bùa hoạ
bóng trên đầu mình, lúc ấy nghe ổng đọc như sau:
Về sau mới được biết có từ đó phép này luôn ở trên đầu mình:
-Tứ Tung Ngũ Hoành, Ngô Vương Xuất Hành, Võ
Vương Vệ Đao, Vưu Mang Tỵ Binh, Đạo Tặc Bất Khởi, Hổ Lang Bất Xâm, Thái Thượng
Lão Quân, Cấp Y Như Nguyện.

Từ
đó không dám chun tùm lum nữa.
-A, kìa
một sư huynh vừa ra quyền, vừa ra miệng bằng thứ tiếng lạ, từa tựa tiếng Miên pha tiếng Tàu, hai mắt nhấm nghiền, tay
chân vùn vụt, những đường võ kỳ lạ, thân pháp liêu xiu, quyền chuyển giữa các
bàn ghế, đồ vật, mà không hề có chút va chạm nào.
Thanh chợt bừng tỉnh:
Đúng đây là Võ Bùa, mình tới đúng ổ rồi.
-…….THƯA THẦY, em muốn học cái võ của anh
đó.
-Gì nữa mậy? sáng qua mầy đòi học võ Tân
Khánh mà.
-Dạ, cái võ đó có phải là võ Tân Khánh hôn
Thầy?
-Đâu có, nó là Lục Thần Quyền mà, bộ mầy từ
nhỏ tới lớn chưa nghe tới võ Thần hay sao?
-Dạ là vậy thôi hay còn sao nữa thầy?
-Ê thằng L với thằng T đứng dậy đi Hổ, Tề
cho nó coi đi.
Và hai sư huynh bay từ bộ ván xuống, chân chưa chạm đất, thần đã giáng
lâm, kẻ vờn như cọp, người hốt tợ hầu, xương cốt chuyển nghe răng rắc, đỏ mặt
tía tai, hùng hổ hậm hực, dậm đất thình thình, lúc đó Thanh mê quá trời liền
hỏi Thầy:
-Đánh đẹp quá thầy ơi, chắc là học mấy năm
rồi hả thầy?
-Mấy cái con khỉ khô, mới có mấy bữa thì mầy
vô đó.
Như để biểu diễn, ổng liền lấy cây roi mây hồi nảy
phóng vèo vào huynh đi Tề quyền, cây nầy bự cỡ cây mía tây, dài gần hai thước,
nó mà dộng trúng vô cái mỏ thì có nước ăn trầu không xỉa thuốc, Ấy vậy mà đang say múa huynh ta vẫn thọt chân lên
bắt gậy ngon ơ như có mủ mít dính ở lòng bàn chân vậy, rồi co gối chuyển gậy
vào hai tay thủ trước ngực như Bái Tổ, kế đó ra roi liên tục, xé gió rợn người,
trừ huynh đang cùng đi Hổ quyền, ai nấy kể cả Thầy đều đồng thời lui mấy bước,
lúc ấy Thanh nghĩ thầm “Thầy cũng teo” huống chi mình, như để trả lời cho suy
nghĩ của Thanh, lúc đó Thầy Tư Nhang bổng vọt người ra giữa Hổ và Tề với một
thân pháp kỳ ảo, thân chưa chạm đất mà vẫn lạng lách người giữa hư không, rồi
vung hai tay cùng lúc vỗ vào huyệt Đại chuỳ của hai huynh,
miệng hô:
-TUSA… là hai vị lảo đảo rồi dừng ngay lại,
lúc nãy hùng hồn bao nhiêu thì giờ đây y như hai trái chuối già mắt mưa, nước
mắt, nước mũi nhiễu tùm lum, run run
sụm bà chè một nước.
Thầy liền hai tay xốc nách hai đệ tử dìu lên bộ ván nằm nghỉ mà không
quên dặn dò:
-Tụi bay có nằm thì đừng làm dơ, lát nữa chị
Tư (Bà xã ổng) mà về bả cự tao nhức xương luôn đó…. (trời, Thầy mình với Tổ thì
kính, với vợ thì nể, vẹn cả đôi đường, không học ổng thì còn học ai đây?)
Rồi ổng ngó Thanh:
-Sao? Mầy muốn học võ nào?
-Dạ, võ Thần đi.
-Vậy đưa thêm 36 tiền để tao làm dây Kà tha
cho (Thôi tiêu tui rồi, võ Tân Khánh chưa học miếng nào, bây giờ thêm cái vụ võ
thần này chắc nhịn cơm luôn quá, không biết có cái bùa nào trị đói hôn đây???)
Như để trấn an ổng nói luôn:
-Thằng nào ở đây cũng học hai thứ, võ công
là để đánh đấm, đấu đài, còn võ Thần là để hộ cơn nguy cấp, tuỳ
ý mầy thôi….
Mà khỏi phải nói, chắc các huynh biết cái tật tò mò của thanh niên rồi.
Vào nhập môn hồi đó, Thầy dậy:
-Phật dậy: Không giết, không dối, không
cướp, không dâm, không say.\
-Tổ dậy: Không phản, không ỷ, không kiêu,
không phụ…. Là chín điều người thọ võ Thần phải giữ.
- Thưa Thầy, nếu không dâm, sao Thầy lấy vợ.
-Ngu quá, là đừng lấy vợ bạn, đừng chèo bồ
của bạn, đừng đi chơi động, đó là tà dâm, có dâm thì dâm với vợ, với bồ mình,
đó là chánh dâm, đạo này tu theo quốc vương THUỶ TỔ, còn có
chánh dâm, còn Phật dạy bỏ dâm là tu Xuất Thế, mầy có muốn cử luôn là tuỳ ý mầy, tao đâu có ép.
-Dạ… em…( chẳng dè một câu trù của ổng hồi đó mà nay đả
thành thiệt, cho nên trước bàn Tổ chớ nói, nghỉ vẫn vơ…)
Thầy lại tiếp:
-Lậy bàn thờ chín lạy để giữ lời thề, có
lòng thì lạy Thầy ba lạy, Thầy không ép…. Dòng phái này xuất từ Thất Sơn… hội
các phép xiêm, miên, leo, lục, chà, hời, lỗ bang… không có phân biệt, do bảy vị
chân nhơn sáng lập…. Nhánh này là của chơn nhơn bá hành ngũ độc…hộ độ…
Kế đó là uống hai lá bùa vô quyền, một lá dài, một lá vuông, lớn cỡ nhãn
bao nhang, cuốn lại chiêu nước uống, không được để đụng răng….
             
Chư vị năm ông, no tho ngăn, bi li, nu sê, nha
bên, mê bray, chứng lòng đệ tử.
Bốn ông chư vị Thất Sơn. Ê hêthắc ca sắc ha đá, tăng
răn put sế ní(5)
Nuốt bùa rồi Thầy hoạ bông vô người ở các chỗ trán-no thăm hăn vai một bili, vai hai nôtho ngăn, ngực nu
sê, lưng nha bên, chỏ a sa lam, gối săn khê, bàn chân a dum a đơ.
Thầy cầm nhang đi vòng quanh mình theo chiều kim đồng hồ, vừa đọc: y ôp
ai se kru kra no manh se dinh rach mọc chiu min mơ đam sap sap ná kru ơi( bài
này trục luôn bùa ngải ma tà cầu hồn)
Phần mình chỉ việc đứng thẳng, nhắm mắt, hai tay bung quyền vòng lên
trán, thở mạnh niệm chú: BUP THÁ… đừng để hở một chút nào như  xâu chuỗi vậy. Lúc thầy
thổi khói nhang thì có mùi lạ lắm, như không pơhải là nhang, mà sau này tới
mình làm y như ổng, quả là cũng có mùi y như vậy….
Lúc cầu quyền về, hồn như bay, phách như lạc, có một lực gì chui vào xương sống, thấy mạnh vô cùng, mạch máu  căng lên chạy rần rần, rồi một sự căm giận từ
đâu đổ tới, chân tay tự cử động, miệng thốt ra âm ngữ kỳ lạ, thân tự đổ nhào
xuống đất, vừa lăn lộn vừa xuất quyền tung cước ngược lên, tai mơ hồ nghe tiếng
xí xào của các sư huynh hoà với tiếng Thầy:
-Trời lâu lắm rồi ông Lèo về đi Xà quyền,
tụi bay ơi.
Rồi mình mê đi, lúc tỉnh vì thầy lấy nước cúng trên bàn thờ rải vào mặt,
cười nói:
-Tốt xác quá….
Các sư huynh thì nói:
-Có ông đi xà quyền thôi, chớ tụi tui chỉ đi
Lục, đi Hổ à… là đủ bầm dập rồi…
Mà quả thiệt, lúc ngồi dậy mình mới thấy ê ẩm toàn thân như vừa chạy 800
thước, từ đầu gối lên tới cùi chỏ bàn tay, đều chảy máu và bầm hết trọi.
Thầy Tư liền an ủi, cho uống bùa này mau lấy lại sức:
- hê mê brây cô ma zăn măc măc (hình)—–
Lại dặn rằng:
-Nuốt vô đem tới bụng thôi, đừng đem xuống
quá đà, giỏi thì giỏi, mà có ngày Tám nóng Mười Hai lạnh đó(tẩu hoả). Lại chỉ thêm:
                                
                    
Luyện đủ ba sau ngày đêm với Mặt Trời và Mặt Trăng, sau đó xuất ra như
vầy để giúp đỡ nè: (hình)….. thì cũng kêu ông Đó thôi, có
điều Nam 7 Nử 9 vòng nghe…., chuyện nhỏ chỉ xài 5 vòng là đủ. Từ nay đã vô
Quyền rồi thì vị ấy sẽ hộ sát con ngày đêm không rời, đừng ăn thịt chó, mèo,
trâu, rùa, nhức là rắn… kêu các vị rắn thần linh như vậy
nè: ….(5 câu)-vị thuốc có nhau thai người đừng dùng mà mang tội, hành tỏi phi
chính rồi mới được ăn, khỉ là người mắc đoạ, đừng ăn thịt
nó…., uống bùa vẽ Châu sa mà ăn Cá Chép thì kỵ, bị nổi mẩn,làm ung sải cả
người… đừng ăn rau dấp cá, angùy, lá chỉ thiên, trừ Tà nó không sợ, Chư vị
không vui…. Ngày mùng 1,4,8,10,14,15,18,24, ăn chay thì chư Tổ xá tội, mấy ngày
đó uống các bùa Tổ này thì công lực trừ tà tăng lên…..(hình)….
Trời ơi khó quá thầy, vậy thì có nước phải
ăn chay luôn quá.
-Ờ,ăn chay được thì sạch xác, dễ tịnh tâm, mấy vị thần quyền khác muốn về cũng dễ …đó là chư vị:….(hình)
- Lục Quyền: so hi kia lục sap sap-êhê ê hí
mắc mắc.
- Hổ Quyền: mủ ra chi, bô ra ia, muc tà
thúc, ha bray, tà on, tà chon…. Tà ba!
- Hầu Quyền: êhê ná ba nặc, na nô na pât da
pá, ná mô pât da pá.
- Khá mà lượng sức mình với mấy ổng, vì sức
lực ấy với gân cốt mình, không chịu nổi lâu…. Đả vậy Thầy còn dạy thêm:
- Ở nhà cha mẹ có la thì phải im, chớ cự
cải, trọng cha mẹ người ta như Cha Mẹ mình vậy… mới là đại nhẫn anh hùng, chớ hễ có chút chuyện là xăn tay áo thì có ngày Tổ bỏ Thầy ngơ… có
nước về nhị tỳ quảng đông ăn cháo lú (âm binh rất thích ăn mùi cháo nóng)

Rồi thời gian trôi qua, thời cuộc thay đổi, đời sống khó khăn hơn trước,
các Huynh đệ không còn căn đài nữa,
đóng tiền học cho Thầy một tháng mà học tới ba tháng, mạnh ai nấy về nhà xúc
gạo mang tới nhà Thầy, đem tới một lon mà ở đó ăn tới ba bữa, có ông Thầy phải
kêu trời:
-Trương Tiên dạy đạo phải đóng năm thúng,
còn tụi bay mỗi thằng có năm lon mà ăn riết thiếu điều tao muốn xuống ruộng
luôn….
Rồi lại có thêm trò mới vào, Thầy lo cơm áo, để mặc tình các sư huynh
truyền dạy, có lúc ổng ngó có một chút rồi lắc đầu than:
-Thần Quyền mà tụi bay đánh riết thành Ma
Quyền rồi, đánh gì mà như cuốc đất vậy? Bây giờ tao cũng không còn biết ông nào
về nữa? Có sư huynh nói:
-Chắc ông này mới, Thầy ơi?
Rồi các huynh giỏi cũng ra đi tìm sinh kế
bằng cách…, bóc vảng, nhập nha, gác động… vì vậy có kẻ đem tiền về cho Thầy
đồng thời cũng đem “của quý” về thầy chữa miết… mà cũng nhờ mấy ông “đại ” đó mà mới học được bài thuốc hay của Thầy, lúc đầu ổng còn
giấu nghề, về sau quá ớn mấy của nợ đó nên chỉ phứt bài thuốc ra cho các vị kia
tự xử… là một cục đường chảy, dầu hôi, vôi ăn 
trầu, hoà lại rồi hơ khói ngọn đèn dầu, đem sức chỗ “đó”, kế hái lá gòn non vo lại
nuốt sống… liên tục mỗi ngày, khá là hay, không thì di căn.
Mà Thần Quyền cũng không giúp được cho những sư huynh phạm giới, nên
cuối cùng kẻ phải vào tù, người vùi dưới mộ, lớp thành thương binh…
-Phần
Thầy vì thượng đài ngày trước nhiều nên xuống sức, nản thế đời, xoay ra tu
Phật…. để Thần Quyền lại cho những ai ái mộ và thường mời thỉnh chư vị tới…
- Các
Huynh có ai tin chuyện này hông?
- Xin
tặng câu chuyện này cho Thầy và các Chư vị
Thần Quyền.
***
Kính thưa chư Huynh, trong cuộc sống kinh tế ngày nay, nhà đất ở Việt
Nam chiếm một tầm quan trọng, lắm lúc sao nhà đất giấy tờ đầy đủ, vị trí không
tệ, giá cả hợp lý mà sao bán mãi không trôi, người cứ tới hỏi rồi hẹn, hẹn rồi
biến mất,… theo dị đoan là có vấn đề, tại ông chủ thổ không chịu, hay là tại
oan gia trái chủ, hay ông bà đời trước không cho, việc kỳ thì ta có nước lấy dị
đoan mà mở vậy…. hãy thực thi tại nơi muốn bán.                        
-Lặp một
bàn hương án nhỏ trong nhà đất muốn bán, vẽ hay in lại lá phù bên trái làm hai
lá, còn bên phải chỉ cần một lá thôi, giờ ngọ cúng 12 cây nhang, bông, trái, 1
lon cá lóc trui( nếu không có thì xài một bộ tam sên cũng tốt), 1 chung rượu
trắng, 1 dĩa gạo và muối hột, một ít giấy vàng bạc đại, bày hết lên bàn ,( kể
cả 3 lá phù), quay mặt ra cửa cầm 12 nhang, vái như sau:
- Nam mô
â nan đà, bồ đề tổ sư, ông chánh soái đại càn,ông phó soái đại càn, thành hoàng
bổn cảnh sở tại, long  thần hộ pháp, đất
đai dương trạch, ông chủ thổ đời trước, đời sau, cửu huyền thất tổ tại vị, chư
vị hành khiển ngủ phương… xin về chứng lễ cho tôi
là….muốn…..bán….cho hanh thông mau lẹ, rồi tôi xin trả lễ
một buổi cơm chay, mặn cho quý vị (vái 3 lần).
-Cắm
nhang đó, kế bước ra ngoài trời đốt lá bùa dài (đốt cho kỳ hết, chớ để sót một
nút phù nào), rồi cầm dĩa gạo muối bước tới 12 bước, rải theo thứ tự – trước -
phải – trái –cuối cùng rải vô nhà đất muốn bán, đốt cho hết giấy vàng bạc, đồ
cúng ta chớ ăn một miếng nào, cũng đừng cho ai ăn, cứ để một chỗ
nào đó với nhang và các món cúng kia, Còn một lá bùa dài nữa thì để vô chỗ thắp nhang đâu đó trong nhà đất, còn lá vuông bên phải thì
bỏ túi áo để khi giao dịch nhà đất nói chuyện cho hanh thông (nếu muốn có thể
đọc chú: – hách hách đông dương, nhơn khẩu kiết xương, sắc lệnh cửu thiêng, vạn sự cát tường)
-Khi bán
được rồi ta nên trở lại cúng để tạ lễ 3 chén cơm chay, 3 chén cơm mặn, bông
trái, giấy vàng bạc, vái lại bài nguyện lúc đầu để tạ ơn và đốt luôn lá phù mà
mình đả để lại trong nhà đất – hoàn tất – chúc bạn thành
công.
(Nguồn: TGVH)
Người muốn học pháp thuật Đạo Giáo cần có sự hiểu biết rõ ràng về Ấn Pháp, trong tất cả các pháp thuộc Đạo Giáo, Ấn là 1 trong 3 thứ cơ bản của Pháp Thuật Đạo Giáo : Ấn, Thủ Quyết, Chú Ngữ, người học pháp Đạo Giáo bắt buộc phải có Ấn nếu không có Ấn thì khó mà phát huy hết được oai lực của Pháp đó, nay Tantric xin ghi chép ra những điều căn bản về Ấn để tiện đường cho người học Pháp nghiên cứu.

Ấn Pháp Là Gì ?

Ấn pháp là 1 trong những pháp khí tối quan trọng của Đạo Giáo Trung Hoa, nó đại diện cho quyền năng của các vị tổ sư cao đạo của Đạo Giáo và cũng là 1 sắc lệnh trong các nghi lễ của Đạo Giáo, Ấn là danh hiệu của Tam Thanh chư thánh, chư thần trong tín ngưỡng đạo giáo, Ấn lấy cốt lõi của Hồn Thần Tư Phủ và cốt lõi quan trọng của Đạo Đức Kinh mà tạo thành, các loại Ấn Chương tượng chưng cho uy quyền và quyền lực của chư tiên, chư thánh trong tiên giới, địa giới, giống như thời xưa có các công ấn, ấn chương của các quan lại, vua chúa thời phong kiến, Ấn thường được làm bằng Vàng, Ngọc, Đá, Gỗ, và được sử dụng trong các văn kiện, sớ tấu, điệp thức và bùa để triệu thần linh, làm tăng oai lực của bùa, thông quái đạt linh, trị bệnh, trừ tà, bảo vệ sức khỏe, giúp trường sinh, vv……

Thường thì tất cả các loại Ấn Chương này trong sách Đạo Giáo có hẳn 1 hệ thống gọi là “ Pháp Ấn ” , Hệ thống Pháp Ấn này được ghi chép và phân chia hết sức rõ ràng ( Thần Tiêu Ngọc Cách Công Văn trang 36-42 ) Sách Kim Tỏa Lưu Chu Dẫn quyển 2 có ghi chép và phân cấp các Ấn như sau: Có 6 loại Pháp Ấn được chia thành 3 đẳng cấp, Thiên Tiên Đạo Sĩ được 24 Ấn, Thần Tiên Đạo Sĩ được 15 Ấn, Khảo Chiêu Đạo Sĩ được 12 Ấn. Sách Thái Thượng Lão Quân Cáo Thiên Đế Quân Nhật cũng ghi chép : Ấn được phân cho 3 đẳng cấp, Thiên Tiên Đạo Sĩ dùng Thượng Thanh Ngọc Hoàng chi Ấn kế đến Nguyên Thủy Chi Ấn là người thường dùng để hành đạo. Thần Tiên Đạo Sĩ dùng Thái Thượng Ngọc Kinh Chi Ấn kế đến là Phi Thiên Cửu Dã Chi Ấn là người thường dùng hành đạo. Các Đạo Sĩ khác thì dùng Thái Thượng Lão Quân Chi Ấn. Vào thời nhà Đường xuất hiện 1 loạt Pháp Ấn đồng thời cũng xuất hiện các quy định về sử dụng Pháp Ấn một cách hết sức nghiêm ngặt, các Pháp Ấn này được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ Tôn Giáo, chính trong bản sách này cũng có ghi rõ là “ Khi sử dụng Ấn để hành pháp cấm tuyệt đối không được dùng ấn đó vào trong văn thư và truyền ra những bản Ấn Phục Bản ( Ấn Giả ), không sử dụng chung các Ấn đó với hệ thống Ấn quan lại ” Quy định của Đạo Giáo về Ấn rất nghiêm ngặt và kĩ càng vậy mà ngày nay nhiều người cho là mình tu học theo Đạo Giáo mà lại vi phạm các quy định đó dùng Pháp Ấn để đóng vào sách vở văn thư 1 cách bừa bãi.

Lịch sử của Ấn Chương đã có từ rất lâu đời, các loại Ấn này đã có sự hình thành trước cả khi Đạo Giáo xuất hiện, các thuật sĩ, thầy mo trong thời Tần, Hán, đã từng dùng Ấn trong các việc tế lễ, trị bệnh, giải tà, thông thần, đạt linh ví như Ấn Hoàng Thần Việt Chương là 1 trong những Ấn có từ lâu đời và nổi tiếng về sự sắc sảo, thời nay giới huyền môn Đạo Giáo gọi loại Ấn Chương này là Đạo Giáo Ấn, giới Huyền Thuật Việt Nam gọi là Phương Sĩ Ấn hoặc 1 vài nơi có tên gọi khác. Theo như sách (Cổ Ấn Bàn ) ghi chép lại, vào thời Tần Hán, giới Thuật Sĩ, Thầy Mo sử dụng Hoàng Chương Việt Ấn rất là thịnh hành, tất cả những giới này đều có Ấn này. Sau này trong các sách Sử Kí, Lý Vũ Bản Kí, Phong Đàn Thư đều thống nhất ghi là Phương Sĩ Ấn, điều này những người đọc sách cổ Trung Hoa nên lưu ý. Ấn Hoàng Thần Việt Chương thường được làm bằng đồng có tay nắm hoặc vòng quanh mạ bạc, còn các loại khác thời cổ đại thường làm bằng bùn đất nén lại ví dụ như Yểm Thắng Ấn hay còn gọi là Ấn Tránh Tà , Việt Nam mình miền bắc gọi là Trảm Tà Ấn, loại Ấn này thường được làm theo kiểu đúc hình 1 linh vật ở trên như dưới là mặt ấn, ở trong bảo tàng lịch sử Tantric có nhìn thấy 1 loại Ấn từ thời Hai Bà Trưng có hình 1 con Nghê ở trên.Trong sách của Tấn Cát Hồng có chép người xưa khi nhập sơn tu đạo tất cả đều phải phục Hoàng Việt Chương Chi Ấn ( Phục có nghĩa là dùng Ấn đó đóng lên giấy rồi đốt đi hòa với nước mà uống ND ) Trong thời kì trước khi có lưu Truyền Hoàng Việt Chương Ấn thì người xưa hay dùng các loại ấn Thiên Đế Chi Ấn, Thiên Đế Sứ Giả Ấn, Thiên Đế Thần Sư Ấn, Thiên Đế Sử Thông Thư Ấn, Thiên Đế Sát Hồn Truy Ấn, Thiên Hoàng Thượng Đế Chi Ấn, Cao Hoàng Thượng Chi Ấn, Thượng Thiên Thượng Đế Vạn Thần Chương Ấn, Thiên Bắc Thìn Trương Ấn, Thiên Phù Địa Tiết Chi Ấn, tất cả những Ấn trên là tiền thân sơ khai của Ấn Pháp Đạo Giáo.

Đến sau này khi thành lập Đạo Giáo vào thời Đông Hán, sau đó là thời của các Thuật Sĩ thời Tây Hán, đây là thời tạo ra Ấn Chương của Đạo Giáo, theo như sử sách Đạo Giáo ghi chép lại Thời Thiên Sư Đạo Tổ Trương Lăng tạo ra Dương Bình Trị Đô Công Ấn sau đó được con cháu của Trương Thị lưu truyền cho tới tận ngày nay. Trong 1 số văn kiện cổ bản có liên quan đến Đạo Giáo đều thấy xuất hiện Ấn này, trên các văn tự của Sách Thiên Sư Đạo,( sách đạo sĩ dạng như phù chú ) Thái Bình Đạo ( là các đạo văn tế )

Thời kì sơ khai Ấn được làm từ rất nhiều chất liệu khác nhau sau này thịnh hành thêm loại Ấn được làm từ gỗ và được sử dụng hết sức rộng rãi cho đến ngày nay hầu như là các Pháp Sư Việt Nam đều dùng các loại Ấn bằng gỗ trong các nghi lễ tế tự, trong sách ( Tùy Thư Kinh Tập Chí ) có đoạn viết về cách làm Ấn bằng gỗ như sau : Lấy gỗ làm Ấn, vào ngày Thìn khắc Ấn, 2 tây chấp Ấn hấp khí, lấy Ấn Trị Bệnh, “ Đây là ghi chép đầu tiên về cách làm Ấn gỗ trong lịch sử tuy vẫn còn quá sơ sài nhưng đó cũng là 1 sự tiến bộ về cách thay đổi chất liệu từ những nguyên liệu quý và khó làm như Vàng, Đá Quý, Ngọc, Ấn làm bằng gỗ sẽ tiện lợi hơn cho các Đạo sĩ bình thường, hoặc người dân chế tạo Ấn Pháp, chính điều này đã làm cho Ấn trở nên phổ cập hơn không bị bó gọn trong những tầng lớp cao quý như trước nữa. Cùng thời kì với Ấn Gỗ thì Ấn làm bằng Đá cũng bắt đầu xuất hiện và được sử dụng song song với Ấn bằng gỗ trong sách ( Cao Thượng Thần Tiêu Ngọc Thanh Chân Vương Cẩm Thư Đại Pháp )
Quyển số 8 có ghi lại cách tạo Ấn như sau : Phàm khi tạo Ấn chọn ngày Giáp Tý, Canh, Giáp, mặt hướng về phía Đông Nam, lấy giờ Thìn, Tị, vào trong Tịnh Thất đốt hương cầu khấn, nói rõ lý do định làm, sau đó dùng tinh khí thổi vào gỗ, sau đó khắc Ấn trong 1 canh giờ phải thành không được đứt đoạn, vật liệu phải chọn Ngọc Thạch hoặc là Lõi Cây Táo, trong 1 vài pháp có đòi hỏi là Gỗ Cây Táo bị sét đánh, theo TanTric thì cũng không hẳn phải là Gỗ Táo bị sét đánh mà có thể dùng gỗ táo thường hoặc dùng gỗ Trầm, Tùng, Bách cũng có thể được.

Chữ khắc trong Ấn về mặt pháp văn thì vô cùng đa dạng, từ thời Hán Tấn trở lại đây Ấn Văn của Pháp Ấn Đạo Giáo đều mang chữ Triện thời xưa, hầu như tất cả các học giả đều có thể nhận biết được điều này, có những loại Ấn mà nội dung của nó có liên quan đến hệ thần linh của Đạo Giáo ví dụ như : Cửu Lão Tiên Đô Ấn, Linh Ngọc Đại Pháp Tư Ấn, Thượng Thanh Thiên Khu Viện Ấn, Thái Huyền Đô Tỉnh Ấn, Ngũ Lôi Sứ Viện Ấn, Bắc Cực Khu Tà Viện Ấn, Lôi Diên Tư Đô Ấn, tất cả những Ấn này đều mang tên của Vị Thần linh, về Phật Giáo cũng có dùng 1 vài loại Ấn mà Tantric biết như Kim Cương Đồng Tử Tùy Tâm Ấn, Ngọc Nữ Phụng Phù Ấn, Thế Tôn Ấn, vv ……

Ấn pháp phát triển theo sự phát triển của Đạo Giáo và Phù Chú là nơi để cho Ấn Pháp phát triển theo nhiều nhất, Đạo Giáo trong thời kì Tống Nguyên phân thành 2 môn phái lớn là Phái Kim Đan và Phái Phù Lục, trong đó phái Kim Đan lấy Nam Tông của Tử Dương và Bắc Tông của Ngọc Trọng Dương làm trung tâm, phái Phù Lục thì lấy truyền thống của các môn phái phát triển đời Hán Đường là Thiên Sư Đạo, Thượng Thanh Phái, Linh Ngọc Phái làm nền tảng, trong Môn Phù Lục đó lại phát triển ra các môn phái nhỏ và các pháp mới gồm các phái : Phái Bắc Đế, Phái Thần Tiêu, Phái Thanh Vi, Phái Đông Hoa, Phái Thiên Tâm, Phái Tĩnh Minh, trong đó Phái Thiên Tâm là người Việt Nam biết nhiều nhất vì ở miền Bắc có lưu truyền 4 bộ sách của Phái này, hiện nay còn lại 1 bộ là phổ thông nhất đó là Thiên Tâm Đạo Pháp Bí Lục, ngoài ra còn có phát triển thêm rất nhiều phái mới nữa mà giới huyền thuật gọi là “ Thật Thập Nhị Gia Phù Pháp ” trong 2 đại phái Kim Đan và Phù Lục thì Phái Phù Lục vẫn phát triển mạnh nhất và Ấn Pháp cũng theo chân Phù Lục mà phát triển. Trong các tông phái về Phù Lục pháp thuật đều có khác nhau 1 chút nhưng tất cả đều phải dùng đến Pháp Ấn ví dụ như Thượng Thanh Phái, Linh Ngọc Phái, Bắc Đế Phái, Thần Tiêu Phái, Thanh Vi Phái, Đông Hoa Phái, Tĩnh Minh Phái, Thiên Tâm Phái đều có loại Pháp Ấn cho riêng mình, bởi vậy khi Tantric có đọc 1 bài của 1 người tự xưng là học Pháp Thuật Đạo Giáo nói là cuốn sách Thần Tiêu Ngọc Cách Công Văn là sách lưu giữ tất cả các Ấn Pháp của các thầy bà, và chữ “ Công ” ở đây có nghĩa là tấn công tất cả các thầy bà, thì Tantric thấy thật là nực cười. Có lẽ vị này nên đọc và tìm hiểu kĩ về Ấn pháp lại thì mới có thể học phép Đạo Giáo được vì gốc của mình còn nắm không rõ thì còn làm gì được nữa chứ, trong tất cả các sách nói về Ấn Pháp người đọc nên tìm hiểu và xem những sách sau để hiểu rõ hơn về Ấn Pháp TanTric xin ghi ra các sách mà ghi chép rất đầy đủ và rõ ràng về các loại Ấn Pháp Đạo Giáo. Sách :

- Thượng Thanh Linh Ngọc Đại Pháp
- Linh Ngọc Vô Lượng Thượng Kinh Độ Nhân Đại Pháp
- Linh Ngọc Lưỡng Giáo Tế Độ Kim Thư
- Thái Thượng Linh Ngọc Tĩnh Minh Pháp Thức Ấn
- Linh Ngọc Lục Đinh Bí Pháp
- Linh Ngọc Tĩnh Minh Tân Tu Cửu Lão Quân Ấn Phục Ma Bí Pháp
- Linh Bảo Ngọc Giám
- Quỷ Cốc Tử Thiên Tủy Linh Văn
- Đạo Pháp Hội Nguyên ( còn gọi là Đạo Giáo Quy Nguyên )
- Thái Thượng Nguyên Thủy Thiên Tôn Thuyết Bắc Đế Phục Ma Thần Chú kinh.
- Thượng Thanh Lục Giáp Kì Đảo Bí Pháp
- Thái Thượng Bắc Cực Phục Ma Thần Chú Sát Quỷ Lục
- Thái Thượng Xích Văn Đổng Thần Tam Lục
- Thượng Thanh Bắc Cực Thiên Tâm Chính Pháp
- Thái Thượng Trợ Giúp Cứu Dân Tổng Chân Bí Yếu
- Cao Thượng Thần Tiêu Ngọc Thanh Chân Vương Tứ Thư Đại Pháp
- Thái Thượng Thông Huyền Linh Kinh Ấn
- Vạn Pháp Bí Tàng bộ số 1 quyển 22.

Đây là những bộ sách nói về các loại Ấn thuộc Đạo Giáo trong số này có những sách nói về các Ấn Pháp của môn phái mà viết ra sách này, các Ấn Pháp được ghi chép hết sức tỉ mỉ về nghi thức và công dụng, cách làm, ngoài ra trong bộ Đạo Kinh cũng có ghi chép lại hàng trăm Ấn Pháp của Đạo Giáo về chức năng công dụng, cách dùng, và tên của Ấn Pháp, bộ sách này chỉ rõ về phương pháp và cách làm Ấn Pháp và đây chính là 1 tư liệu hết sức quý cho ai nghiên cứu chuyên sâu về Đạo Giáo.

Pháp Ấn không những đại diện cho quyền uy của chư Thần Thánh mà còn là 1 tín vật để truyền thụ của các môn phái Đạo Giáo giống như Khăn Ấn của Nam Tông vậy, các Pháp Ấn còn lưu truyền đến ngày nay gồm có khoảng 500 đến 600 loại Ấn ( số liệu của báo chí Đài Loan Tantric chưa kiểm định ) các Ấn Pháp thường được chia làm 4 loại như sau:

Loại 1 : Lấy danh hiệu Thần Tôn của Đạo Giáo để làm Ấn Văn như : (Cửu Lão Tiên Đô Ấn ) ( Lôi Hỏa Đại Tướng Ấn ) ( Tam Thiên Nội Húy Ấn ) ( Thiên Bồng Ấn ) ( Lục Đinh Ngọc Nữ Ấn ) ( Hoàng Thần Ấn ) (Đô Thiên Đại Pháp Chủ Ấn ) ( Cửu Lão Đế Quân Ấn ) ( Na Da Thiên Nữ Ấn ) ( Cửu Thiên Huyền Nữ Ấn ) ( Tam Hoàng Ấn ) ( Đế Quân Ấn ) (Thái Vi Đế Quân Ấn ) ( Thiên Đế Thần Ấn ) ( Bắc Cực Đại Tướng Quân Ấn ) ( Thái Huyền Thiên Đế Ấn ) ( Chân Vũ Ấn ) ( Đạo Quân Ngọc Ấn ) (Thiên Bảo Quân Ấn )

Loại 2 : lấy danh của các vị thần, đạo chức để làm Ấn như : ( Hoàng Lục Viện Ấn ) ( Ngũ Lôi Sử Viện Ấn ) ( Lôi Đình Đô Ty Ấn ) ( Nguyên Ứng Thái Hoàng Phủ Ấn ) ( Nguyên Cảnh Đan Thiên Phủ Ấn ) ( Nguyên Hòa Thiên Giáo Phủ Ấn ) ( Nguyên Chiếu Linh Hư Phủ Ấn ) ( Đề Cử Thành Hoàng Ti Ấn ) ( Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn ) ( Luyện Độ Ti Ấn ) ( Thái Huyền Đô Tỉnh Ấn ) ( Bắc Cực Khu Tà Viện Ấn ) ( Thượng Thanh Thiên Xu Viện Ấn ) ( Dương Bình Trì Đô Công Ấn )

Loại 3 : Lấy kinh văn để khắc ấn như : ( Bát Uy Văn Ấn ) ( Xích Thư Ngọc Tự Ấn ) ( Hỗn Hợp Bách Thần Ấn ) ( Hỗn Đồng Xích Văn Ấn ) ( Linh Thư Trung Thiên Ấn ) ( Nguyên Thủy Phù Mệnh Ấn ) ( Ngũ Đế Đại Ma Ấn ).

Loại 4 : Lấy hình phù lục và chú ngữ để khắc Ấn như : ( Ngọc Thanh Thông Chương Ấn ) ( Hoàng Thần Ấn ) ( Việt Chương Ấn ) ( Đại Khôi Tổng Giám Ấn ) ( Bắc Đế Phong Đô Triệu Quỷ Thần Ấn ) ( Bắc Cực Giám Sát Thần Ấn ) ( Thiên Tín Ấn ) ( Địa Tín Ấn ) ( Nhân Tín Ấn ) ( Tín Ấn ) ( Hồ Tín Ấn ) ( Vân Tín Ấn ) ( Phong Tín Ấn ) ( Kim Tín Ấn ) ( Mộc Tín Ấn ) ( Thủy Tín Ấn ) ( Hỏa Tín Ấn ) ( Thổ Tín Ấn )

Theo như ghi chép trong các sách Đạo Giáo thì có rất nhiều chức năng của Pháp Ấn nhưng tựu chung là Pháp Ấn có những chức năng sau. :

- Vận chuyển Âm Dương, Thay đổi khí hậu, biến ngày thành đêm, tổng lĩnh gió mưa, sấm sét, ( các loại Ấn dùng làm phép cầu mưa gọi gió )

- Cải biến xuyên sơn trong địa lý, như khai sơn lấp hồ, thu phục mãnh thú, giáng hạ độc trùng, gọi long phục hổ, biến hóa được vạn vật, như có thể biến hoa mộc thành người, hoa quả tự sinh, thống nhiếp tam giới, khiển quỷ triệu thần, phục ma khu tà, diệt yêu tinh tà mị, tích binh trừ hại, bách trùng không phạm đến, phù nguy cứu khổ, cứu tế cô bần, trị bệnh khu tà, tảo trừ ôn dịch, nạp tài chiêu bảo, bảo hộ sanh nhân, bảo vệ lãnh thổ, luyện độ vong hồn, khai u khải minh, trừ thân uế độc, thông đạt chân linh.( trích sách Đạo Giáo Quy Nguyên )

Theo như cách dùng Ấn ở trong sách trên nói thì tương đối rộng, các Ấn Pháp dùng trong các trường hợp cũng không hề giống nhau. Sách ( Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp quyển số 27 có chép như sau : Chánh Nhất Pháp Lục thì dùng Cửu Lão Tiên Đô Ấn, Đồng Huyền Pháp Lục thì dùng Thông Chương Ấn, trong các nghi lễ của Đạo Giáo nhất thiết phải có những bài Tấu sớ phù Hịch hoặc thiếp điệp lúc đó thì sử dụng Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn, Khi cấp sắc cho đệ tử dùng phép cũng dùng đến Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn ( trường phái pháp sư miền bắc còn các phái khác tantric không nắm được rõ lắm nên không dám nói càn ) khi làm Bái Chương thì dùng Thông Chương Ấn, làm những bài cấp thiết tấu cáo thì dùng Hoàng Thần Việt Chương Ấn ( ấn này rất nhiều tác dụng) Khi sử dụng việc triệu hồn thì dùng Thần Hổ Ấn, khi triệu thần nhiếp quỷ, bạt cứu vong hồn, thì dùng Khu Tà Viện Ấn, các loại Ấn Pháp thường có tác dụng rất là chồng chéo nên khi cần dùng pháp nào thì sẽ lựu chọn Ấn Pháp để làm, ví dụ như Linh Bảo Đại Pháp Ti Ấn ngoài những pháp kể trên ra Ấn này còn dùng được vào rất nhiều pháp khác.Có những loại Ấn Pháp, công dụng nhiều vô số kể hầu như là có thể làm được mọi việc ví như Lôi Bộ Hữu Lục Phù Bảo Ấn của Thần Tiêu Phái, Ấn này được làm bằng Đá Ngọc Bị Sét Đánh Vỡ ra lấy lõi của Đá đó làm Ấn hoặc dùng Đá Thiên Thạch để làm Ấn.

Cách làm Ấn Pháp cũng khác nhau rất nhiều thường mỗi pháp sẽ có cách làm Ấn riêng không có mẫu số chung ví dụ trong sách Linh Bảo Vô Lượng Độ Nhân Thượng Kinh Đại Pháp quyển 3 có ghi chung chung như sau : Ấn vuông 2 thốn 1 phân, dày 7 phân, dùng bằng gỗ cây Đào có cành quay về hướng Nam mà chặt, Sách Đạo Giáo Quy Nguyên lại ghi Ấn vuông 2 thốn 5 phân, tìm cây Táo mà làm chọn ngày Giáp Tý chế tạo Ấn 1 sách khác nói về Thiên Bồng Ấn như sau : Ấn này vuông 2 thốn 5 phân, dùng thần mộc khắc Ấn, vậy theo như tất cả các sách về Đạo mà nói thì chủ yếu dùng gỗ Táo , Đào làm Ấn, và khắc Ấn nhỏ chỉ khoảng 3 cm mà thôi để tiện cho việc cầm nằm Ấn.
Phương Thức Chế Tạo Ấn Và Cách Luyện Ấn ( trích Vạn Pháp Bí Tàng số 2)
Phần này xin phép không ghi ra tại đây.

(Tantric ghi trong TGVH)
Nếu các tôn giáo có nhiều hệ phái thì đạo phù thủy ở Việt Nam ta cũng vậy.
<!– /* Font Definitions */ @font-face {font-family:"Cambria Math"; panose-1:2 4 5 3 5 4 6 3 2 4; mso-font-charset:0; mso-generic-font-family:roman; mso-font-pitch:variable; mso-font-signature:-1610611985 1107304683 0 0 159 0;} /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-unhide:no; mso-style-qformat:yes; mso-style-parent:""; margin:0cm; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman","serif"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";}.MsoChpDefault {mso-style-type:export-only; mso-default-props:yes; font-size:10.0pt; mso-ansi-font-size:10.0pt; mso-bidi-font-size:10.0pt;}@page Section1 {size:612.0pt 792.0pt; margin:72.0pt 90.0pt 72.0pt 90.0pt; mso-header-margin:35.4pt; mso-footer-margin:35.4pt; mso-paper-source:0;}div.Section1 {page:SecPhùthủy ở miền Bắc VN đầu tiên từ Tàu truyền sang , cho nên chúngta cũng cần biết qua nguồn gốc phù thủy ở Tàu trước .Theo lịch sử Trung Quốc thì khi Xuy Vưu chống lại vua Hoàng Đếthì y đã dùng bùa ngải , thư, chú để đánh quân của Hoàng Đế.Vua Hoàng Đế lại thua nhiều trận sau nhờ được Bà Cửu ThiênHuyền Nữ dạy cho 8 ngày về các bùa phép để phá Xuy Vưu .
HuyềnNữ dạy Hoàng Đế từ ngày Nhâm Tý, Qúy Sửu trừ hai ngày GiápDần, Ất Mão thôi rồi lại dạy tiếp từ ngày Bính Thìn đếnhết ngày Tân Dậu tổng cộng là 8 ngày, nhờ thế Hoàng Đế biếtchế kim nam châm “chỉ nam” và bùa phép phản công lại Xuy Vưukhiến cho bộ lạc này tan rả phải rút lên núi cao mà ở . Saunày họ hóa thaǹh bộ lạc Mèo “Miêu tộc” và vùng núi họ ởgọi là vùng Miêu cương nơi chứa nhiều bí hiểm và độc địa .Sau đó Hoàng Đế truyền lại cho Chúc Do Thập Tam Chưởng mà đại đa số là bùa chú trị bịnh cho binh sĩ thời đó .Như vậy là nghành Đông Y cũng có một khoa tṛi bịnh bằng bùa phép như :- Chữa bịnh Truyền thi lao sái .- Các bịnh mụn nhọt .- Dùng khi châm cứu .Đó là những cách dùng bùa lẫn với dùng thuốc .Thí dụ :Chữa bịnh Lao truyền thì dùng bùa dán để vây con trùng laorồi dùng ngải cứu mà đốt .Muốn làm tan nhọt thì thư phù trênmụn cho tan đi hoặc cho vỡ đi gọi là đinh gíap thần phù ( Lọainày biên gỉa đã thí nghiệm thấy rất linh diệu và gia phụ đãtrị cho cả trăm người bị lên đinh lên bắp chuối và mụn xoàiđều tan hoặc vỡ cả ) và lọai bùa khi châm cứu là để mở cáchuyệt đạo trong người trước khi châm cứu. Phù thì gọi là TháiẤt thần phù và chú thì gọi là Càn Nguyên thần chú.Đến Khương Tử Nha tức Thái công khi cầm quân phạt Trụ thì lạiđem áp dụng phù chú vào binh pháp trận đồ, vào các việcbệnh, tử trong quân doanh mà sau này Trương Tử Phòng và Gia Cátcũng như Lưu Bá Ôn đều áp dụng theo.Loại phù thuỷ trên được gọi là chính đạo và thường do các đạo sĩ, những người tu Tiên sử dụng. Đến đời Tống thì TrươngThiên Sư ở Long Hổ Sơn cho đệ tử truyềnbá nhiều thứ phù phép trong dân gian do đó nghành phù thuỷ lantràn khắp chốn.Riêng về nghành phù thủy đã nói ở trên là thuộc về thần đạovà sử dụng đến “Thiên Tinh “các sao Thiên Thần , Thiên TướngThiên Binh như Lục Giáp Thần Binh v.v…Còn một nghành phù thủy chuyên môn thờ Qủi, chuyên môn dùngchúa Qủi để sai khiến ma qủi và trị qủi thì gọi là Độc CướcMôn-Môn phái thờ Thần Độc Cước .Nghành phù thủy này nửa tà nửachính, nhưng các giới đạo sĩ thì gọi thẳng họ là tà đạo.Khi vào nhà một ông phù thuỷ nhìn lên bàn thấy có thờ mộtông tượng chỉ có nửa người đứng với một chân, một tay, mộtmắt,một tai, một lỗ mũi – nghĩa là đúng y như là một ngườibị chẻ dọc làm hai – thì đó là thần tượng Độc Cước, chúacủa Qủi.
Người ta không rõ ông Độc Cước này ra đời từ bao giờ , chỉ thấy truyền thuyết nói rằng:“Đời Thượng Cổ ở bên Tàu có một vị nho sinh, một hôm vàotrong núi tìm Hoa Lan và thưởng cảnh . Khi trở về thì gặp mộtngười con gái đang định nhẩy xuống vực sâu tự tử . Chàng nhosinh bèn giữ lại kịp và hỏi lý do thì cô gái cho biết lànàng bị cha mẹ ép gả cho một tên cường hào giàu có lớn hơnnàng tới 40 tuổi cho nên nàng phẩn chí muốn chết .Nàng địnhđến nhà cậu ở nhờ nhưng đi đến đây hết tiền, nên lên mõm nuínày để tự vận .Chàng nho sinh thấy nàng nói năng mềm mỏng và mặt lại rấtđẹp, đời chàng chưa hề gặp. Lúc đó chàng đến đây du học, tiềnbạc có sẳn lại ở có một mình trong một căn nhà mà chàngthuê người dựng lên ở nơi vắng vẻ nay nếu nàng chịu lấy thìta đưa nàng về ở chung để nàng lo việc cơm áo cho ta.Nghĩ thế chàng liền ướm hỏi cô gaí thì cô gái gật đầu.Chàng nho sinh đưa cô gái về nhà ở và sai nàng đi chợ mua sắmthức ăn, chàng ở nhà đọc sách .Một năm sau nàng sinh hạ được con trai đầu lòng rất ngộ nghĩnh. Vợ chồng ăn ở với nhau rất hạnh phúc cho tới năm đứa trẻlên 4 tuổi thì một hôm gần Tết chàng ra thị trấn mua bút giấybổng gặp vị đạo sĩ , vị đạo sĩ nhìn chàng rồi hoảng hốtthan nhỏ :-Ôi! người sắp chết đến nơi rồi không biết .Tiếc thay !Chàng lấy làm lạ , bèn vòng tay làm lể và xin vị đạo sĩ chỉ dạy cho.Vị đạo sĩ nói, chàng đã lấy phải một con yêu tinh nó đã thuhút tinh khí của mấy trăm người rồi, nay nó sắp thành mộtloài qủi Tiên không ai trừ nổi , vậy chàng phải tránh xa nókhông thì chết.Chàng nho sĩ cả sợ vội van xin vị đạo sĩ hảy cứu chàng và vì đời trừ hại gíup.Vị đạo sĩ nói :- Nó thụ hấp tinh khí của nhiều người rồi nên ta không đủ sứcgiết nó . Vậy ta cho ngươi một đạo phù này đem về dán ở cửachính còn một đạo thì đeo vào người . Hể khi nào nó đi chợthì ngươi ở nhà hả dán bùa và đeo bùa .rồi ở trong nhà , khinó về nó sẽ không vào nhà được , dù cử mở .Nó sẽ gọi ngươimở cửa cho nó vào thì ngươi biết nó yêu tinh đuổi nó đi .Chàng nho sinh nhận hai đạo phù đem về giấu kín trong quyểnsách không cho vợ hay biết . Hôm sau chàng sai vợ đi chợ sắmtết .Khi người vợ đi khỏi chàng đem hai đạo bùa ra đeo và dánở cửa .Đến qúa trưa người vợ về đến sân bỏ thúng xuống và đứng ở sân gọi chồng mở cửa cho nàng vào. Chàng nho sinh bèn đuổi nàng đi và cho biết nàng là yêu tinh.người vợ thấy chồng đuổi bèn giơ tay vẫy , thì thằng bé đangchơi ở một góc nhà , thấy mẹ vẫy bèn chạy ra sân . Chàng nhosinh không kịp giữ lại .Đứa trẻ ra đến sân thì con yêu cầm haicổ chân đứa trẻ xé ngược lên và le lưỡi ra như người ta dùngkiếm mà rọc ,đứa bé liền bị xé như chẻ làm hai . Con yêu vấthai nửa đứa trẻ xuống sân thì một nửa đứng lên còn một nửaté nằm trên đất .Con yêu gọi lớn : -Người không lấy ta nữa thì con đó , chia đôi mỗi người một nửa .Rồi nó chạy đi và cái nửa xác sống nhảy theo sau mà đi vàonúi. Cái nửa người đó là Thần Độc Cước là chúa Qủi”.Muốn thờ thần này thời xưa thầy phù thủy cứ ba năm phải tếsống bằng cách giết người tại bàn thờ để lấy tim và máu tếthần Độc Cước. Nếu trong năm đó mà không mua được người vềthì thầy phù thủy phải dùng đệ tử hay con cái, gia nhân màtế thay.Sách đời Đường có ghi truyền, Thôi Vĩ vốn là con trai nhà thơThôi Hướng đời Đường. Thôi Vĩ qua Giao Châu thăm cha làm TháiThú, lúc về qua Phiên Ngưng vì giỏi khoa châm cứu nên được mộtông thầy phù thủy ở miền núi gần Dương Thành mời đến châmcứu chữa gíup bệnh bướu .Thôi Vĩ đến nơi chữa khỏi bệnh cho thầy phù thuỷ, và đượcmời ở chơi, thầy phù thủy này vốn cho người nhà đem cả vạnlạng bạc đi để mua người mà không mua được, nên lão ta quyếtđịnh lừa bắt Thôi Vĩ giết đi để tế thần Độc Cước.May là Thôi Vĩ đẹp trai, lại giỏi đàn nên đứa con gái thầy phù thủy nó mê và nó ngầm báo cho Thôi Vĩ trốn đi Ở Việt Nam ở mỗi tỉnh có ít ra 5, 7 ông thầy phù thuỷ thờ thần Độc Cước .Có thờ thần Độc Cước thì mới dễ thu âm binh , mới dễ tróctà nhưng sau này không thiêng nữa vì thần Độc Cước không đượccúng bằng người sống .Ngoài việc thờ thần Độc Cước , nhiều thầy phù thủy lập điệnthờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn , tục gọi là Đức ThánhTrần, và thờ các tượng khác, như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, DãTượng.Trên bàn thờ Đức Thánh Trần thì dưới gầm bàn phải thờ Ngũ Hổ Tướng , để sai đi tróc tà.Đạo thờ Đức Thańh Trần gọi là Đạo Nội . Trên toàn quốc cóđến mấy ngàn ông thầy phù thủy thờ Đạo Nội . Họ là đệ tửcủa Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nên hàng năm họ phải đi lễ ởđền Kiếp Bạc, trên sông Vạn Kiếp để tạ lễ gọi là” đi trẩyhội cha ” (Tháng 8 hội cha, thánh 3 hội mẹ).Đạo Nội Đức Thánh Trần cũng ra tay ấn quyết phù chú khu tàtróc qủi bằng bùa phép nhưng đại đa số là để trị :- Những người đàn bà bị ma làm( qủi ám).- Những người hữu sinh vô dưỡng – Những tiền oan nghiệt chướng ( tiền phu, tiền thê v.v…).Cứ theo các sách ghi trong các điện của thầy phù thủy thìvào thời kỳ Đức Trần Hưng Đạo đánh quân Mông Cổ có tên Tàulai là Nguyễn Bá Linh đi theo quân Mông Cổ dọ thám quân ta vàtác oai tác quái khắp các miền từ Bắc Ninh xuống đến HảiDương, Kiến An .Nguyễn Bá Linh có phép phù thủy biến hóa được cho nên bắtđược mấy lần nó lại trốn thoát. Các vị đạo sĩ Việt Namphải luyện bùa vào chỉ ngũ sắc để khi bắt được thì dùngchỉ mà buộc cổ nó.Sau khi bắt được thì quân ta đem ra chém nhưng cứ chém đứt đầurơi xuống, trông lại nó vẫncòn nguyên đầu. Sách ghi là chémđầu nó mọc đầu kia nên không làm sao chém được nó .Sự việc tâu lên nhà vua và Hưng Đạo Vương .Đức TRần Hưng Đạobèn ra lệnh bôi cứt gà sáp vào gươm mà chém Nguyễn Bá Linh”còn tên nữa là Phạm Nhan”được giải về Chương Dương chém .Khi bị chém nó kêu lên là nó sẽ là qủy ở đất nước An Namvà cho nó ăn gì?( có nghĩa cúng nó bằng gì? ), vị quan GiámHình và đao phủ rủa lại nó là :” cho mầy ăn máu bà đẻ!”.Khi xác bị vằm ra ném xuống nước và bụi cây thì :”dài làmrắn, ngắn làm đỉa, lia tia làm muỗi ” nghí̃a là hóa thànhcác động vật hút máu hại người .Sau khi chết, Phạm Nhan chuyên đi hút máu và âm nhập các sảnphụ . Vì thế mà người ta phải nhờ oai Đức thánh Trần để trừkhử nó .Do tích đó mà đạo phù thủy Việt Nam g̣ọi là Đạo nội ra đời.Đạo này dùng kiếm ấn của Đức Thánh Trần làm phù hiệu chuyêntrừ Phạm Nhan và các loại tà ma, cũng có bùa chú đầy đủ .Khi bắt tà ma thì dùng Ngũ Hổ và các Hổ Tướng của ĐứcThánh Trần phụ lên giúp . Các việc về tiền oan như tiền Thê” giết vợ cả lấy vợ kế vàhồn vợ cả hiện về báo thù bóp chết hết mọi đứa con và làmcho người vợ kế bệnh nặng” quan trọng lắm mà các vị quantướng như Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão không xử nổi thì mới phụđồng thỉnh Đức Thánh Trần về .Ông Nguyễn Đăng Thục có viết một cuốn sách khảo cứu về ĐạoNội nay”X.B ở VN hồi Đệ Nhất Cộng Hòa”các thầy phù thủy ởVN thường dùng vỏ và thân cây núc nác “tức là cây Hoàng Bámột vị thuốc Bắc, cây gỗ Đào, gỗ Dương Liễu để làm ấn .Các đạo sĩ dùng phép phù thủy vào các việc hành binh nhưlập trận đồ, sử dụng Thiên binh thì thì phải dùng”Cây Gỗ TáoBị Sét Đánh” gọi là”lôi kinh mộc táo” hoặc “cây gỗ trầmhương” mà làm ấn thì ấn mới linh.Muốn luyện bùa tàng hình thì phải thu bùa trên thanh quế để xuất nhập doanh trận của địch.Vị Tiên Hàn Tương Tử có truyền lại cho phép luyện bùa ” BạchHạc Tử Chi Phu” rất linh diệu để tàng hình nhờ Hạc Thần giúpsức “Qúi vị coi lịch ngày Mồng 1 Tết thường ghi Hạc Thần đểluyện bùa”.Bùa để trừ tà và nhất là để trừ Phạm Nhan nguyễn Bá linhrất cần có máu người bị chết chém cho nên thời xưa khi cóngười bị xử trảm thì các thầy phù thủy kéo đến pháp trườngcó cả trăm người để lấy máu kẻ bị chém. Họ phải đút lótlính canh cho họ ngồi gần chổ tử tù bị chém để khi vòi máucủa tử tù phun ra thì họ dùng giấy bản mà hứng lấy ngaythấm trên đất mà lấy.Thời xưa người Việt Nam mê tín nên mỗi khi trong nhà có ngườibệnh thì đều ngỡ là bị ma làm qủi ám.Nhất là khi có ngườinhà chết thì thường sợ là bị” chết trùng” hay là nhà ởkhông yên ổn nên con ốm,v ợ đau, gà mái gáy gở , em hóa điên ,chị hóa dại thì ngỡ là bị tà ma quấy phá , hay là trong nhàngỡ có thạch tinh cốt khí thì phải nhờ đến thầy phù thủy .Thầy phù thủy chân truyền chính đạo là cứu nhân độ thế thìvẫn có nhưng rất hiếm, còn đa số đều là mê tín dị đoan tintheo tà thuyết tà đạo để kiếm tiền trục lợi .Cho nên khắp từmiền Bắc VN vào đến Nghệ Tĩnh không mấy làng không có thầyphù thủy. Nhưng thầy cao tay chân chính thì cả huyện may ra mớiđược một ông. Các ông thầy đó đại đa số tuyệt tự , truyềnthuyết nói là bị ma qủi nó báo thù vì khu trục nó ra.Đến như ở miền Nam thì lại thêm một số ông thầy làm Bùa kiêmnuôi Ngải như làm ngải yêu, ngải cầu tài, ngải hành hạ thânchủ ( Như thân chủ không đóng tiền cúng hàng tháng thì làm họđau bụng , nhức đầu v.v… ).
(Sưu tầm trên Internet)

OZ

Tôi tạo ra blog này chỉ đơn thuần là một sự đam mê huyền thuật, cho nên tất cả những gì được viết và lưu trữ tại Blog này đều được sưu tầm, tổng hợp từ Thế giới net.
Xin cảm ơn bằng hữu đã ghé thăm tệ xá của tôi, trong khói trầm lả tả giữa đêm khuya nào hãy cùng khám phá Thế giới huyền bí trong Blog này!
Hãy cho đi rồi bạn sẽ nhận!
Chúc các bạn thâm tâm an lạc.
OmaniZen cẩn bút

RSS Tin Tức

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Ẩm thực chay

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS http://dantri.com.vn/xa-hoi.rss

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Lý học phương đông

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

Blog Stats

  • 62,149 hits

Categories

July 2014
M T W T F S S
« Sep    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.