(Dân trí) – Trên đỉnh Tây Côn Lĩnh có một loài cây kỳ lạ, quanh năm làm bạn với mây trời ở độ cao từ 1.500 đến 2.000m, rễ bám sâu vào vách đá, loài cây kiên cường trong sương gió có tuổi thọ lên tới hàng trăm năm. Đó là cây San Tuyết.

Những chiếc búp non được trẩy về sao vàng làm nên Mạc trà có màu sắc và hương thơm kỳ lạ.

“Cao Tuyên thảo địa linh – Mạc trà cung đình ẩm”

Truyền thuyết được lưu truyền trong dòng họ Mạc kể lại rằng sinh thời, Mạc Đăng Dung rất thích uống một thứ lá cây kỳ lạ, được lấy từ trên đỉnh núi cao quanh năm mây phủ của dãy Tây Côn Lĩnh. Ông biết đến thức uống này nhờ một kỳ duyên. Thủa còn làm nghề đánh cá trên sông, một lần ông đuổi theo một con cá khổng lồ, con cá như đã thành tinh, hết sức ma mãnh. Đã bao lần, chàng ngư phủ Mạc Đăng Dung tưởng tóm được nó nhưng rồi lại trượt. Read the rest of this entry »

Bùi Công Tự


Một trong số những nghề mà người Việt học được từ “văn minh Trung Hoa” là nghề làm thầy phù thủy. Nghề này ở Trung Quốc rất phát triển, cao tay nhất là ông Cao Biền có thể chuyển được quả núi từ đông sang tây. Phép thuật của họ thường là những bùa ngải và những câu thần chú “úm ba la”.

Thuở nhỏ, ngồi trong lòng bà nội, tôi được nghe kể nhiều chuyện về thầy phù thủy Tàu trong đó có chuyện nước Nam mình nhiều vàng bạc lắm nhưng vì người Nam thật thà nên bị người Tàu lừa gạt cướp đoạt hết. Họ cướp được nhiều đến nỗi không đủ xe cộ để chuyên chở về nước họ. Thế là họ phải nhờ thầy phù thủy (tất nhiên là phù thủy Tàu) tìm chỗ đất hiểm, đào hầm bí mật chôn dấu vàng bạc của cải để sau này có dịp đến lấy. Họ còn tìm mua (hoặc bắt cóc) các bé gái người Việt, cho ngậm sâm, chôn sống dưới các hầm đó để làm thần giữ của.

Tương truyền rằng có nhà nọ bán đứa con gái út 8 tuổi cho người Tàu. Do biết trước âm mưu của người Tàu mua bé làm thần giữ của nên khi chia tay người mẹ đưa cho con gái một túi hạt vừng (hạt mè) và dặn dò đi đến đâu thì nhớ rắc hạt vừng xuống vệ đường. Vì cô bé được người Tàu cho ngậm sâm nên có thể sống được 100 ngày dưới hầm sâu. Sau đó người cha đã lần theo lối có những cây vừng mới mọc mà đi tìm cứu được đứa con về, lại lấy được kho vàng đem chia cho dân làng.

Đấy là chuyện ngày xửa ngày xưa. Còn cách đây mấy chục năm thì có chuyện đến xây dựng nhà máy điện Ninh Bình. Địa điểm mà nhà nước ta lựa chọn để xây dựng là một nơi đất bằng phẳng thì phía Trung Quốc không chịu. Họ bảo phải xây nhà máy sát chân núi đá vôi. Hóa ra chỗ núi ấy theo bản đồ của họ là nơi trước đây người Trung Quốc chôn giấu vàng. Trong khi xây dựng nhà máy họ đã đào được kho vàng ấy. Họ bí mật đưa vàng về nước nhưng không may cho họ, trên đường đi bị công an, thuế vụ, quản lý thị trường của ta chặn lại kiểm tra, tịch thu bằng hết. Chuyện này nghe nhiều người kể, chẳng biết thực hư thế nào?

Hai mẩu chuyện kể trên, một của thời cổ tích và một của thời hiện đại. Rất có thể đó là những hư cấu. Nhưng theo tôi những hư cấu ấy bắt nguồn từ sự thật. Đó là sự thật người Tàu đã cướp bóc dân ta như Nguyễn Trãi đã lên án trong Bình Ngô đại cáo: “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội/ Nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.

Việc người Tàu đến Việt Nam cướp bóc, lừa đảo đã đi vào chuyện dân gian như thế, những người dân ít được học hành như bà nội tôi  cũng còn biết. Nó chứng tỏ việc đó đã xảy ra rất phổ biến và lâu dài trong lịch sử nước ta. Nó tạo nên tâm lý cảnh giác với người Tàu của nhân dân ta.
TPHCM, 19/09/2011

Ngôi chùa hoang và kỳ án thiên thu

Nguyễn Xuân Diện
















Đó chính là một ngôi chùa ở Xứ Đoài. Ngôi chùa này đứng ngay trên lối vào cổ ấp Đường Lâm. Dân tôi gọi là Chùa Ón, hoặc cẩn thận hơn thì gọi là chùa Ón Vật.


Chùa này có từ bao giờ không ai biết. Trong chùa cũng chẳng có tượng pháp, mà chỉ có bát hương để trên một bệ gạch hoang tàn lạnh lẽo quanh năm. Tất nhiên chùa không có sư. Trong chùa cũng chẳng có một hàng câu đối hoành phi gì; chỉ thấy trên câu đầu là có chữ Nho. Đôi câu đầu ấy, một bên là “Nguyên Hanh Lợi Trinh” lối triện; bên kia là năm tháng dựng cột bắc nóc, với cái năm can chi rất chung chung, khiến ta không thể xác định được niên đại chắc chắn.

Chùa này, các cụ già trong làng chẳng còn biết tên chữ của nó mà chỉ gọi là chùa Ón. Cách đây khoảng trên 10 năm, tôi có may mắn được vào thăm hậu cung đình Mông Phụ, thấy có một quả chuông đồng. Đó chính là quả chuông của Ôn Hoà tự. Àh, Thì ra chùa Ón là tên Nôm của Ôn Hoà tự.

Chùa này có mảnh sân vuông vắn đằng trước mặt. Thảm cỏ xanh rờn này, mỗi năm lại một lần bị giày xéo vào dịp đầu tháng Ba ta. Khi ấy ở đây mở một sới vật làm nơi tranh thư hùng của các đô khắp tỉnh Đoài. (Đấy là ngày xưa thôi, chứ bây giờ ai người ta vật nhau trên cỏ ấy nữa).

Các cụ già trong làng kể rằng: Chùa này vốn là nơi Tàu để của. Các cụ ấy lại được các cụ trước truyền lại rằng mấy ông khách để của có lời nguyền rằng ai giết đủ 99 đàn bà chửa đem làm lễ vật dâng thần thì sẽ lấy được vàng bạc châu báu mang đi.

Nhưng rồi có ai dám làm việc đó, dù chỉ là giết 1 thai phụ. Ấy thế nhưng, mấy chú khách thì đã lấy được hết đống của cải ấy đi, mà không thèm lấy một giọt nước mắt nào của dân làng sở tại.

Các cụ kể lại, vào một năm nọ, có một đoàn các chú Khách (người Tàu) về thăm làng Mông Phụ. Họ ăn ở trong các nhà trong làng, nói rằng cha ông họ đã từng đến đây và rất yêu phong thủy nơi này. Được ít bữa, trong đêm, họ kéo nhau ra cánh đồng nơi có Chùa Ón, lập một đàn tế. Đàn tràng được che bằng tấm dù ngũ sắc, dựng trên 7 cái cột sơn màu sắc khác nhau (hôm sau các cụ còn thấy tại hiện trường). Nửa đêm bắt đầu tế mà dân làng không ai biết.

Sáng hôm sau, khi dân làng đi làm đồng qua chùa Ón thì thấy ngổn ngang mọi thứ. Vuông đất trước chùa đã bị đào bới lung tung cả. Trong đống đất đá lộn xộn đó, người ta thấy có cái bàn gỗ nhỏ trên có chiếc đĩa sứ Giang Tây màu lam ngọc. Trên đĩa có 99 cái đòng đòng lúa.

Những nguời Khách đó không quay lại làng nữa, mà cũng không có lời chào từ biệt trước đó.


Chùm ảnh Chùa Ón của Họa sĩ Bùi Hoài Mai


Nguyễn Xuân Diện sưu tầm

Rằm Tháng 7- ngày lễ của người Việt được giới tăng ni Phật tử gọi là ngày Đại Lễ Vu Lan, dịp đặc biệt để con cái báo hiếu các bậc sinh thành, tổ tiên đã khuất. Theo tín ngưỡng dân gian, rằm tháng Bảy cũng là ngày xá tội vong nhân, các nhà bày mâm cỗ cúng chúng sinh….

1. Theo sự tích xưa, Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Sau khi đã chứng quả A La Hán, ông tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng huệ nhãn tìm. Thấy mẹ vì gây nhiều nghiệp ác nên rơi vào ngục A Tỳ làm quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, ông đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ. Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tranh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.Quá thương cảm, xót xa Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát”.

Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Và thế là mỗi năm khi ngày này đến gần, những người phụ nữ trong gia đình lại bận rộn hơn với công việc chuẩn bị cúng rằm nhớ ơn tổ tiên, lên chùa khấn cầu Phật phù hộ cho gia đình, cha mẹ được bình an phúc đức, tất bật chuẩn bị những mâm lễ cúng chúng sinh. (VNN).

2. Theo Phật Quang Đại từ điển, mục từ: Vu Lan Bồn. Phạm: Ullalambana. Cũng gọi: Ô lam bà noa. Chữ Hán dịch là Đảo huyền. Cũng gọi là Vu lan bồn hội, Bồn hội. Chỉ cho nghi thức cầu siêu độ cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thân thuộc nhiều đời, được cử hành vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch hàng năm căn cứ theo lời Phật dạy trong kinh Vu lan bồn tạo các khu vực theo Phật giáo thuộc hệ thống Hán ngữ. Read the rest of this entry »

A. Phong Thủy? 

Phong là GIÓ, Thủy là NƯỚC, nghiên cứu Phong Thủy thực chất là nghiên cứu nguồn gió và dòng nước. Muốn làm được việc đó, cần có những cứ liệu chính xác về địa lý cảnh quan, để rồi hoặc tận dụng những điều kiện ưu việt của nó, giúp con người sống ngày một tốt hơn, hoặc khắc chế những yếu tố bất lợi của nó, để giảm bớt tai họa cho cuộc sống của mỗi người.

Ở tầm “vi mô”, các thầy phong thủy hành nghề theo yêu cầu của các gia chủ, họ chỉ xem xét phạm vi chật hẹp của ngôi nhà, thửa đất nho nhỏ của một gia đình, họ chỉ được quan sát môi trường hẹp xung quanh mảnh đất, đường đi lại, dòng sông chẩy qua, mái đình, ngôi chùa ở gần đó, cái cột điện, cây đa truyền sinh khí hay lưu âm khí … rồi ông thầy đưa ra các giải pháp chế ngự hung khí, khai thác sinh khí bằng cách trổ cổng ngõ, đào ao, trồng cây, hoặc có khi chỉ treo trước nhà một tấm gương hay một lá bùa… Ông thầy có thể hiểu, nhưng không thay đổi được vận khí của một vùng đất, của cả làng, cả huyện, cả tỉnh hoặc cả một quốc gia. Thực tế, đã có nhiều thầy giỏi, hành nghề có uy tín, được nhiều người hâm mộ. Nhưng, ta hãy thử nghĩ xem, nếu cả huyện, cả tỉnh hay cả quốc gia của ta bị lụn bại, thì việc bám vào tấm gương hay lá bùa trước cổng, điều hanh thông có đến được với gia đình ta và con cháu ta không?

Ở tầm “vĩ mô”, các nhà nghiên cứu phong thủy địa mạch có tầm nhìn bao quát hơn, rộng hơn và cơ bản hơn. Từ hình dạng đất nước, từ cấu trúc địa hình, dẫy núi, dòng sông… con người phải tận dụng, nhưng phải tôn trọng, làm những việc hợp với nguyên lý khoa học, hợp với thời đại và mang lại lợi ích trường tồn cho đất nước ta, tức là cho mỗi chúng ta.

B – Chiến tranh Phong Thủy

Theo những tài liệu đã tung lên mạng của nhóm Lê Văn Xương từ hàng chục năm trước, thì từ đỉnh Everest cao 8.800m trên dẫy Hymalaya có một đường gân núi cổ sinh uốn lượn, theo biên giới Ấn Độ và Tây Tạng, qua cao nguyên Vân Nam của Trung Quốc, đến đỉnh Fanxipan của dẫy Hoàng Liên Sơn trên nước ta cao 3.341m, mạch núi cổ đi đến vùng Lâm Thao Phú Thọ thì “lặn xuống” và qua con sông Đà uốn lượn, gân núi cổ sinh lại “mọc lên” đỉnh Ba Vì cao 1.226m. Gân núi này uốn lượn theo hình một con Rồng khổng lồ, đuôi xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ.



Nếu ta gọi Everest là Tổ Sơn, nóc nhà của thế giới, nơi tiếp nhận linh khí của Trời, đến đỉnh Fanxipan của dẫy Hoàng Liên Sơn là Thái Sơn, nơi thụ Linh khí truyền vào đất nước ta, thì Ba Vì là Trấn Sơn, hòn núi đứng gác non sông. Quanh Trấn Sơn Ba Vì còn có các dẫy núi khác quây lại (gọi là núi chầu Thiếu Sơn) như Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, Hoàng Liên Sơn, Sông Đà, Tam Đảo và Trường Sơn. Chạy theo các dẫy Núi chầu này là các dòng Sông Tụ: đó là Sông Hồng, sông Chẩy, sông Lô, sông Đà, sông Thao…. gặp nhau ở Việt Trì rồi tỏa xuống, đưa nước vào nuôi sống cả đồng bằng Bắc Bộ.   

Quả vậy, Ba Vì là Trấn Sơn, hòn núi đứng gác non sông, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với bao truyền thuyết đáng ghi nhớ. Không phải vô cớ mà cách đây 1200 năm, thầy phong thủy Cao Biền, quan Thái thú của vua Đường Y Tôn đã phát hiện ra các huyệt đạo quan trọng và đã cố công trấn yểm để diệt hiền tài của nước ta, nhưng vẫn bị bó tay với Ba Vì. Trước mặt Ba Vì ở khoảng cách 26 km là Hồ Tây mênh mông, nơi tụ linh khí tỏa ra từ đỉnh Ba Vì, là Minh đường lớn và chính Cao Biền đã gọi Hồ Tây là Não thủy (xưa kia còn có tên là hồ Dâm Đàm, hồ Xác Cáo, hồ Kim Ngưu…) ở đó có những mạch nước thông với sông Hồng, nên những lúc nước sông Hồng dâng cao vẫn có bọt sủi và xung quanh Hồ Tây, đặc biệt khu vực Tây Hồ Tây thuộc phường Xuân La ngày nay, vẫn còn những địa danh cổ rất lạ như sông Thiên Phù (Trời giúp) Đình Bái Ân, Chùa Bái Ân (tạ ơn Trời), ở hồ Tây đã từng nhiều lần xẩy ra hiện tượng Long quyển thủy (rồng cuốn nước). Năm 1010 Vua Lý Thái Tổ dời đô về và  đặt tên Thăng Long chính vì lẽ đó. 


Chưa hết, từ Ba Vì ra đến cảng Vân Đồn thì đuôi rồng lặn xuống nước, nên nơi đó có tên là vịnh Hạ Long, rồi đường gân đi xa mãi, xa mãi đến vịnh Mindanao ở Philipin sâu gần 11.000m. Ta cũng biết rằng nhiều ngàn năm qua người Hán từ Tây Bắc Trung Hoa tràn xuống xâm chiếm và đồng hóa các dân tộc Bách Việt ở phía Nam sông Trường Giang, nhưng đến đồng bằng Bắc Bộ có cấu trúc núi chầu sông tụ và có trấn Sơn Ba Vì thì họ bó tay. Một ngàn năm Bắc thuộc mà họ không đồng hóa nổi chúng ta cũng vì đặc điểm cấu trúc phong thủy này.

Người Hán có nguồn gốc ở Tây Bắc nước Trung Hoa tràn xuống Phương Nam, họ có tham vọng vô cùng lớn. Họp đã thôn tính được các dân tộc Bách Việt ở Nam Trường Giang. Năm 1914, nhà Thanh thôn tính được quốc gia Tây Tạng và hôm nay họ biết họ không đồng hóa được Tạng Tộc thì họ tàn sát cho đến người Tạng cuối cùng và hôm nay họ xâm lấn các tỉnh biên giới, họ khai thác Bauxite để phá Tây Nguyên và từ năm 1974 đến nay họ không ngừng gây sự với ta để chiếm Hoàng Sa Trường Sa, đồng thời uy hiếp Philipin cũng vì kho của cải vô giá ở Biển Đông.

Các sự kiện trên Biển Đông hôm nay. Những phản ứng mới nhất của Philippin và cộng đồng Đông Nam Á gần đây đang phản ánh cuộc chiến đấu nghiêm trọng, mà Việt Nam đang là yết hầu của cuộc chiến này, nếu TQ “thắt cổ” được Việt Nam là Trung Quốc nuốt gọn Đông Nam Á.

Nếu ta coi Trái đất là một cơ thể sống hoàn chỉnh, thì “đường gân” từ đỉnh Everest nóc nhà thế giới đến đáy vịnh Mindanao là bộ xương sống giữ cho hình dạng trái đất không bị biến dạng, không bị bóp méo và bởi vậy, con người mới có cuộc sống yên ổn, không phải nơm nớp lo sợ động đất, sóng thần, lở núi…cùng nhiều tai họa khác.

Cũng trên nguyên lý đó, nếu ta coi vùng núi cổ sinh Ba Vì là hòn núi đứng gác non sông có trên 250 triệu năm với lịch sử giữ nước của dân tộc ta cũng như thảm thực vật đa dạng và quý hiếm của nơi đây, thì ta ý thức được đồng bằng Bắc Bộ “non trẻ” có thể tồn tại được, có thể duy trì cuộc sống cho con người mãi mãi cũng nhờ vùng đá cổ sinh này.

Bởi vậy, đào núi Ba Vì lên để đào vàng hay làm bất cứ chuyện gì đều động chạm thô bạo đến “cái lõi” giữ cho đất nước ổn định, là là phá hoại an ninh đất nước.  

C- Những Kiến nghị

Khái niệm về Công viên địa chất Geopark đã được thế giới định nghĩa, đầu tiên phải là một vùng có những di sản địa chất có giá trị khoa học, là một vùng có cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và có thảm thực vật đa dạng sinh học. Việt Nam chúng ta đã có Công viên địa chất cao nguyên Đồng Văn được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu. Nếu trong Hội nghị quốc tế về Công viên địa chất tổ chức từ ngày 16 đến 24/7 -2011 tại Hà Nội, ta được UNESCO công nhận Ba Vì là Công viên địa chất thứ hai, thì Hà Nội sẽ vinh dự được đầu tư Ba Vì thành một đô thị du lịch.

Để có thể có được một công viên địa chất toàn cầu, có giá trị về bảo tồn di sản văn hóa, lại có sức hấp dẫn khách du lịch, phải có một nghiên cứu tổng thể, phân loại, đánh giá, không chấp nhận kiểu tự phát, xô bồ, mạnh ai người đó làm như hiện nay.

1 – Khu vực Rừng Quốc gia Ba Vì là khu vực bảo tồn cấp nhà nước, không chấp nhận cho bất cứ một nhóm tư nhân nào chiếm làm của riêng. Phải ngừng ngay và cấm hẳn việc cho xe ủi đất đào bới khu vực Rừng Quốc Gia đồng thời, cần phải dừng ngay việc xây dựng tháp Báo Thiên ở trên đỉnh núi, việc đó sẽ dẫn tới sự thất thoát linh khí

2 – Thành phố Hà Nội cần tận dụng những kết quả đã dầy công nghiên cứu khoa học của PGS.TS Tạ Hòa Phương và các cộng sự chuyên ngành địa chất, để cùng đề xuất trong Hội nghị Quốc tế vào tháng 7 tới, tổ chức tham quan, khảo sát… quyết giành được sự chấp thuận của UNESCO cho xây dựng Ba Vì thành một công viên địa chất cấp quốc tế để phục vụ nghiên cứu khoa học và kinh tế du lịch.

4- Về mặt Quy hoạch & Kiến trúc, rất nhiều nhà nghiên cứu đặt câu hỏi rằng Đà Lạt cách xa TP Hồ Chí Minh những 300 km, mà có thể trở thành một thành phố nghỉ dưỡng đẹp, mang phong cách Châu Âu, thu hút khách du lịch khắp nước, thì tại sao Hà Nội có Sóc Sơn, Ba Vì mà tại sao không thể tạo thành một “Thành phố xanh” hay gọi là “Đà Lạt sát bên Thủ đô” với các loại hình du lịch sinh thái (của người Mường) và du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh (của người Dao với 300 loài cây thuốc quý và nghề chữa bệnh truyền thống mà không nơi nào có thể tìm thấy được).     

5 – Đã đến lúc, người hưởng thụ ý thức được niềm hạnh phúc được sống hòa mình trong thiên nhiên với những ngôi nhà xinh xắn, vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, với những thảm thực vật đa dạng và cây cỏ phong phú. Để có giá trị văn hóa  sâu sắc và để thực sự thu hút được sự hâm mộ của đại đa số khách du lịch tham quan trong nước và bạn bè quốc tế, việc xây dựng, hình mẫu kiến trúc… không thể tùy tiện, mạnh ai người đó làm như đang xẩy ra.

Vừa qua, Hội KTS Việt Nam đã thành lập Hội đồng KIẾN TRÚC XANH, rất hy vọng Hội sẽ phát động các cuộc thi làm quy hoạch và sẽ lựa chọn hình mẫu kiến trúc, xây dựng thử một khu vực hoàn chỉnh…

Tóm lại, để chung sức đóng góp bảo vệ toàn bộ Khu vực và Vườn Quốc gia Ba Vì, khu đất linh thiêng quan trọng nhất của đất nước, nơi còn có tên là TRẤN SƠN – hòn núi đứng gác non sông. Nơi ấy là địa điểm quan trọng, liên quan đến vận mệnh của đất nước, nên quy hoạch và xây dựng Ba Vì phải được nghiên cứu thận trọng và phải được các cơ quan chuyên môn nghiên cứu và Chính phủ ra quyết định.

(Theo Nguyen Xuan Dien Blog)


Ngựa cũ quen đường,
Đĩ già lậm nết. 
Việc phế hưng mỗi thuở khác nhau,
Mộng bá chủ bao đời y hệt!
Ta thấy ngươi,
Từ Đông Chu bị họa Thất Hùng,
Đến Hậu Hán bị xiềng Tam Quốc.
Đất Trường An thây chất chập chùng,
Bờ Vô Định xương phơi chất ngất!
Đã biết,
Hễ gieo chinh chiến là kín đất đau thương,
Nếu động can qua thì mịt trời tang tóc.
Vậy mà sao,
Chẳng lo điều yên nước no dân,
Lại quen thói xua quân chiếm đất?
Như nước ta,
Một dải non sông, nam bắc chung giềng,
Trăm triệu anh em, trước sau như nhất.
Hoàng Liên, Tam Đảo, Hồng Hà, Cửu Long , là máu là xương,
Phú Quốc, Côn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sa là da là thịt.
Máu xương đâu lẽ tách rời,
Thịt da dễ gì chia cắt?
Mà là liền tổ quốc phồn vinh,
Mà là khối giang sơn gấm vóc.
Người trăm triệu nhưng vốn một lòng,
Tim một trái dẫu nhiều sắc tộc!
Nữ nhi chẳng thiếu bậc anh hùng,
Niên thiếu cũng thừa người kiệt xuất.
Mười năm phục quốc, gươm Lê Lợi thép vẫn sáng ngời,
Ba lượt phá Nguyên, sông Bạch Đằng cọc còn nhọn hoắt.
Thùng! Thùng! Thùng! Liên hồi giục, trống Ngọc Hồi hực bước tiến quân.
Đánh! Đánh! Đánh! Luôn miệng thét, điện Diên Hồng, vang lời sát thát.
Ải Chi Lăng, Liễu Thăng chết còn lạc phách kinh hồn,
Sông Nhị Hà, Sĩ Nghị chạy còn đứng tim vỡ mật.
Thoáng thấy vó câu Thường Kiệt, Khâm Châu ngàn dặm, không còn bóng quỉ bóng ma,(1)
Chợt nghe tiếng sét Đống Đa,Quảng Đông toàn tỉnh chẳng tiếng con gà con vịt. (1)
Hùng khí dù dậy trời Nam,
Nghĩa nhân lại tràn đất Bắc:

Thương ngươi binh bại, tàn quân về còn cấp xe ngựa rình rang (2)
Trọng kẻ trung can, hổ tướng chết vẫn được khói hương chăm chút.(3)
Mạc Cửu đem quân lánh nạn, chúa ta vẫn mở dạ đón người,
Hoa kiều mượn đất ở nhờ, dân ta vẫn chia cơm xẻ thóc.

Phúc cùng hưởng khi mưa thuận gió hòa,
Họa cùng chia lúc sóng vùi gió dập.
Giúp các ngươi như kẻ một nhà,
Thương các ngươi như người chung bọc!
Thế mà nay,
Ngươi lại lấy oán trả ơn,
Ngươi lại lấy thù báo đức!
Ăn đàng sóng, nói đàng gió, y như đĩ thúi già mồm.
Lộn bề ngược, tráo bề xuôi, khác chi điếm già bịp bạc.

Kéo neo tuần hạm, ào ào đổ bộ Hoàng Sa,
Quay súng thần công, ầm ỉ tấn công Đá Bắc.
Chẳng chấp hải qui,
Chẳng theo công ước.
Quen nết xưa xấc láo, giở giọng hung tàn,
Lậm  thói cũ nghênh ngang, chơi trò bạo ngược.

Nói cho ngươi biết; dân tộc ta:
Từng đánh bọn ngươi chỉ với ngọn giáo dài,
Từng đuổi bọn ngươi chỉ bằng thanh kiếm bạc.
Từng đánh Tây bằng ngọn tầm vông,
Từng đuổi Nhật với thanh mác vót!

Vì khát tự do mà uống nước đìa,
Vì đói độc lập mà ăn cơm vắt.
Sá chi tóc gội sa trường,
Đâu quản thây phơi trận mạc.

Hãy liệu bảo nhau,
Nhìn thây Gò Đống mà liệu  thắng liệu thua,
Thấy cọc Bạch Đằng mà nghĩ sau nghĩ trước!
Đừng để Biển Đông như Đằng Giang máu nhuộm đỏ lòm,
Đừng để Hoàng Sa là Đống Đa xương phơi trắng xác!
Nếu ngươi dựa vào hỏa tiển, phi cơ,
Thì ta cũng có tuần dương, đại bác.
So vũ khí, thì kẻ nhược người cường,
Đọ trái tim, coi ai gang ai sắt?
Thư hãy xem tường,
Hoàng Sa hạ bút.
KHA TIỆM LY
Chú thích:
(1) Sử ghi: Khi Lý Thường Kiệt  đưa quân qua Khâm Châu, Liêm Châu, cũng như khi quân Thanh bại trận Đống Đa chạy về, thì dân Tàu vùng biên giới kinh hoàng chạy  theo. “Từ Nam Quan về bắc hàng trăm dặm vắng tanh, không thấy bóng con gà, con vịt”
(2) Sự kiện Lê Lợi cấp ngựa và lương thực cho tù binh quân Minh về nước
(3) Sự kiên dân ta lập miếu thờ Sầm Nghi Đống hạ tướng của Tôn Sĩ Nghị)


Theo ông Tản, không thể kể hết những gia đình đã được ông hàn gắn tình cảm cho đến thời điểm này.

Chỉ vì một giấc mơ lạ cứ lặp đi lặp lại mà ông Quách Văn Tản đã trở thành một “cao thủ bùa yêu” của xứ Mường ở Hòa Bình.

Nhìn theo tay của chú Hải – người dẫn đường của chúng tôi – ngôi nhà sàn đơn sơ nằm chênh vênh trên dãy núi sừng sững dần hiện ra. Lúc chúng tôi đến thì ông Tản đang loay hoay kiểm tra những tổ ong rừng trước cửa nhà. Thấy có người lạ ông dừng tay, ngẩng mặt gật đầu chào chúng tôi.

Hai người đàn ông trao đổi qua lại bằng những câu tiếng Mường mà tôi chỉ bập bẹ hiểu đôi ba câu. Nói đoạn, ông Tản tươi cười mời chúng tôi lên nhà, đến lúc đó tôi mới nhìn rõ khuôn mặt người đàn ông gắn với nhiều giai thoại và lời đồn đại này.

Ông Quách Văn Tản.


Ông tên thật là Quách Văn Tản, là người gốc ở xóm Thung, Yên Phú. Đã bước sang tuổi 60 mà nom ông Tản còn trẻ lắm. Thân hình rắn rỏi, nước da trắng và dáng người mảnh khảnh, mái tóc cũng chỉ điểm vài sợi bạc. Nếu không nói hẳn người đối diện khó đoán biết được tuổi thật của ông.

Thấy chúng tôi thực tình muốn tìm hiểu, lại được sự giới thiệu của ông thông gia, vì thế sau khi nhâm nhi chén rượu pha mật ong rừng, ông Tản khề khà kể tường tận về cái cơ duyên đưa ông đến với “nghiệp thầy bùa”.

Làm thầy bùa nhờ… nằm mơ

Cầm cái ống điếu cày dài cả mét, ông Đản rít 3, 4 hơi dài nhả khói, lim dim kể: “Bố mẹ, ông bà tôi chưa có ai là thầy bùa cả. Trước đây tôi cũng là người bình thường như ông Hải đây. Cũng là dân lao động, lên rừng kiếm củ khoai, củ sắn, trồng cây ngô làm kế sinh nhai như bao người dân bản khác.

Đến năm tôi khoảng hơn 40 tuổi, thằng con trai thứ khi ấy ốm liệt giường, chạy chữa thuốc thang mãi chưa khỏi. Một đêm đang ngủ thì nằm mơ thấy một người già hiện lên bảo: Phải làm một bàn thờ, sau người phù hộ cho gia đình êm ấm, con cái khỏe mạnh. Người già ấy nhìn không rõ mặt nhưng giọng nói thì sang sảng, nghe rõ mồn một từng lời.

Tỉnh dậy tôi có kể cho vợ nghe nhưng vốn trước đó chưa từng tin vào những chuyện ma quái, bùa ngải, thần thánh nên chỉ xem đấy như một giấc mơ bình thường. Tuy nhiên, càng ngày thì giọng nói của người già càng nhiều. Ngay cả những lúc thiu thiu ngủ, hay thậm chí nằm chợp mắt buổi trưa cũng nghe văng vẳng lời truyền bên tai. Thậm chí, Người đứng ở đầu giường ấy, bảo không làm theo lời Người bảo sẽ bị đánh. Đến độ, ít lâu sau đó tôi bị điếc và cứng hàm không nói được.

Đến lúc này sợ quá mới lập bàn thờ ở góc nhà theo như lời chỉ dạy của người già. Sau đó thì con trai khỏi bệnh, bản thân tôi cũng nghe rõ hơn, không bị cứng hàm nữa mà người cũng khỏe khoắn hẳn ra.

Những bài khấn làm bùa về sau này cũng là do người già đọc cho, tỉnh dậy cứ thế mà khấn lâu dần thành quen.

“Mần” vào củ gừng, nắm muối… hàn gắn hàng nghìn gia đình

Bàn thờ “linh thiêng” theo lời thầy Tản, đặt ở góc nhà là một chiếc bàn gỗ cũ kỹ cao chừng thắt lưng người. Bên trên phủ chiếc chiếu hoa, trên cùng đặt hai bát hương, mấy chai rượu, cái quạt, cây nến…

Theo thầy Tản, người đến xin bùa làm mâm cơm (tiền đặt lễ, chai rượu, đĩa xôi, con gà hoặc thịt lợn) thành tâm quỳ trước bàn thờ, thầy sẽ khấn rồi “mần” vào củ gừng, nắm muối, cái khăn… Tùy theo mức độ… khó dễ mà người xin bùa phải lên thỉnh thày 2, 3, hay 4 bận.

Sau đó, người xin bùa khi đến gặp người mình muốn “bỏ bùa” cứ mang theo bên mình là được. Người nào chồng chán, chồng chê, chồng sẽ lại yêu thắm thiết. Người nào theo đuổi mãi cô gái không đồng ý, dắt bùa theo người là cô gái kia phải yêu mê mệt. Người nào chán chồng, muốn bỏ vợ cũng nhờ đến thầy, thầy mần cho là đường ai nấy đi…

Sau 20 năm làm nghề, ông Tản đã hàn gắn rất nhiều các cặp đôi đang bên bờ đổ vỡ.


Câu chuyện đầy chất hoang đường, khó tin, ấy vậy mà theo thầy Tản, mỗi năm có đến 200-300 lượt người tìm đến nhà thầy xin bùa chú. Tính nguyên trong bản thầy cũng hàn gắn cả trăm gia đình (điều này ông Hải cũng gật gù xác nhận), những người ở tỉnh xa như Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây (cũ), thậm chí cả Đak Lak, TP.HCM… cũng tìm về nhờ thầy giúp.

“Có ngày 4, 5 người cùng tìm đến một lúc, ngay như hôm qua cũng có người từ Hà Nội về. Bà này 45 tuổi, là giáo viên đấy, nghe bảo chồng đi theo người khác đến nhờ tôi làm bùa yêu để chồng bỏ cô gái kia mà về với gia đình. Lên đây là lần thứ 3 rồi. Nếu có chép tên tuổi những người tìm đến e cả cuốn sổ dày trăm trang cũng không đủ. Ngày lễ ngày Tết người ta cứ nườm nượp tìm về cảm ơn…”, ông Tản kể không giấu vẻ tự hào.

Tuy nhiên, thầy Tản cũng thừa nhận không phải ai thầy cũng làm bùa thành công. Người nào không hợp mệnh thầy thì khó lòng mà thành được, thầy bảo 10 người cũng chỉ được… 8, 9.

Tôi hỏi đùa: “Có phải thầy cũng dùng bùa để làm bà Hai mê không. Bà ấy vừa trẻ vừa đẹp lại kém thầy tới 20 tuổi…”.

Thầy Tản nhấp thêm chén rượu cười khà khà, còn bà Hai ngồi bên cạnh thì đỏ mặt cười ỏn ẻn: “Ừ đấy, ông ý bỏ bùa mê tôi đấy…”.

Lúc bà Hai vừa đi khuất, ông Tản thì thầm nói chỉ đủ cho chúng tôi nghe: “Bà ấy thì chẳng phải bỏ bùa đâu, thương nhau thì đến với nhau thôi. Nhưng cũng còn 2, 3 bà nữa, phải giấu chứ, các bà ấy mà biết là ghen ầm ầm…”.

Khi chúng tôi xin phép ông Tản ra về, trời cũng đã nhá nhem tối, ánh trăng rằm chênh chếch soi đường. Suốt đoạn đường xuống núi, chúng tôi không ai nói với ai câu nào, ước đoán mỗi người đều theo đuổi suy nghĩ riêng của mình trước câu chuyện khó tin, nhiều tình tiết mê tín của ông Tản.

Riêng bản thân tôi, vốn không mấy tin vào những chuyện thần thánh ma quái như vậy. Nhưng dẫu sao vẫn phải thừa nhận rằng, bùa ngải nếu nhìn một cách tích cực thì đó là nét văn hóa của nhiều dân tộc, thể hiện ước mơ hạnh phúc. Tuy nhiên, cũng không nên lạm dụng nó để hoạt động mê tín dị đoan, gây dư luận không tốt cho xã hội.

Chúng tôi dừng chân tại UBND xã Bình Chân, Lạc Sơn, Hòa Bình. Kể câu chuyện về ông Tản, Chủ tịch xã – ông Bùi Văn Sen tỏ vẻ khó tin, ông bảo: “Bây giờ, người dân cũng ít tin về bùa chú rồi. Bệnh tê tê say say hoành hành dân bản từ bấy đến nay có ông thầy, bà mế nào giải được đâu…”.

Theo 24h

– Có lẽ, đây là ngôi chùa duy nhất không có sư ở. Kể từ ngày chùa dựng, trải qua mấy trăm năm trường chinh, bao cuộc dâu bể chuyển dời, nó vẫn sừng sững, uy nghi và được bao phủ thêm bởi những lớp lang huyền thoại.

Khi màu thời gian dừng lại trên nóc đền thờ Phật, nơi có tượng đôi nghê tọa lạc và màu vôi đã chuyển sang màu đùng đục, cuối đuôi những viên ngói nam đã mục nát vì nắng mưa làm ải cả cái thứ đất sét đã qua lửa lò, than quạt… thì chùa đã trải qua ngót nghét 20 đời ông thủ từ làm công việc trông nom, chăm sóc.
Đó là chùa Hành Thiện (xã Xuân Hồng – huyện Xuân Trường – Nam Định). Chùa còn có tên gọi chùa Keo, tọa lạc trên địa thế nếu không hiển linh chắc cũng nhiều nỗi niềm khó nói…
Bí ẩn của lời nguyền
Địa thế làng Hành Thiện mang hình con cá chép. Chẳng biết có phải do “mắc cạn” mà không vượt qua được ải Vũ Môn để hóa rồng hay không mà đất Hành Thiện dành vị trí cao nhất để dựng chùa, thờ Phật.
Một khu đất cao nổi lên nơi đầu mõm rô (gò đất cao nơi cửa sông – PV), án ngữ bờ sông Hồng vào làng. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập, chùa Hành Thiện do Không Lộ Thiền sư (1016-1094) xây cất.

Sân chùa rộng mênh mông và hàng trăm năm nay chùa keo Hành Thiện không có sư ở…


Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền, khi ngài đắc đạo, Thiền sư Không lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước, có tài thuần phục được rắn, hổ.
Truyền thuyết còn kể rằng, trước khi viên tịch, ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biễn thành tượng. Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, cứ sau 12 năm, một chủ lễ và 4 viên chấp sự được cử ra để làm lễ trang hoàng tượng thánh.
Những người được cắt cử làm nghi lễ tôn nghiêm này phải ăn chay, mặc quần áo mới, sau khi rước thánh tượng từ cấm cung ra mới dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho tượng thánh. Họ buộc phải giữ bí mật những điều đã thấy khi trang hoàng tượng thánh. Điều đó càng tạo nên lớp sương bí ẩn bao bọc quanh ngôi chùa nhiều huyền thoại.

Những nét cổ kính, trầm mặc…


Dấu tích đầu tiên của chùa Keo là ở làng Dũng Nhân (huyện giao Thủy-Nam Định). Năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn sông Hồng. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa; đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích, cả làng mạc lẫn ngôi chùa.
Dân làng Keo phải dời bỏ quê cha đất tổ, một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng (về sau dựng nên chùa Keo – Thái Bình); một phần xuống vùng Xuân Trường, dựng chùa Hành Thiện. Như thế, tính từ khởi nguyên, ngôi chùa mang tên Keo đã tồn tại gần 9 thế kỷ.
Và lịch sử của nó gắn với tên tuổi của Thiền sư Không Lộ – một vị quan văn võ kiêm toàn từ thời Lý, có tài bốc thuốc, chữa bệnh và ăm ắp một bụng kinh luân.
Trong sân chùa rộng mênh mông và hoang vắng, những mái chùa cong cong, những cột, kèo nằm “trơ gan cùng tuế nguyệt”; cửa tam quan đóng im ỉm… Gác chuông hai tầng nằm lặng lẽ. Tất cả dường như đang ‘chìm đắm trong giấc ngủ’. Bà cụ bán hương, giấy vàng nơi cổng, co rúm lại bên cạnh những cây cột lim đã lên nước.

…vẫn còn giữ được gần như nguyên vẹn.


Biết tin có khách đến vãn cảnh chùa, cụ Vũ Ngọc Thức, sinh năm 1932, hiện đang là thủ từ trông coi chùa Hành Thiện, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Sự im lặng của gỗ lạt, gạch ngói hàng trăm năm được “cách ly” qua cánh cửa, một không gian thiền vỡ òa, ào đến trong sự kinh ngạc của khách.
Theo lời của cụ, những người đảm trách làm “thủ từ” đến nay đã mấy chục đời. Những thủ từ trước đều đã về với thiên cổ. Kể từ ngày chùa có mặt trên doi đất hình con cá chép này, mọi việc trông coi, trùng tu, lễ lạt nhất nhất đều do làng đảm nhiệm.
Ngày lễ hội, Ban quản lý chùa, đội bảo vệ toàn là những người do làng cắt cử. Ông chủ lễ được chọn phải là người có những “tiêu chuẩn” đặc biệt: hai ông bà còn song toàn, được ăn yến lão (thượng thọ), gia đình văn hóa, không có ‘tì vết’…
Ngay như đội bảo vệ, thủ từ cũng phải là những người có “gốc tích”. Riêng thủ từ phải theo kiểu “cha truyền, con nối”. Đời cha truyền đời con, đời sau kế thừa đời trước.

Người dân trong xóm chia nhau cắt cử trông giữ, trùng tu… chùa.


Cũng như những ngôi chùa khác, nghĩa là chùa cũng bao gồm cổng tam quan, cung chùa Phật, đền thánh, đền thờ đức tổ sư… Trước cổng chùa cũng có hai cây đa cổ thụ ngót bốn trăm tuổi soi bóng xuống mặt hồ; hai dãy hành lang gồm bốn mươi gian gỗ lim, mái ngói vảy cá chạy dọc sân chùa lát gạch nghiêng, viên nào viên nấy cũng rắn đanh một màu lửa nung già dặn.
Giải thích sự thắc mắc của tôi về việc chùa không có bóng dáng của “áo thâm, nón tu-lờ” đứng ra làm nhiệm vụ khói nhang cho đức Phật, cụ Thức cười đầy cảm thông: “Ngay từ khi tôi lớn lên đã như thế. Bố tôi kế nghiệp của ông nội; ông tôi thừa hành từ cụ cố… Đến đời tôi là đời thứ 7. Tất cả tên tuổi, ngày tháng của những ông thủ từ đều được ghi rõ trong cuốn “Hành Thiện xã chí”…”.
Những điều bí ẩn thường có lý do của nó. Còn lý giải cho sự lạ của ngôi chùa này là huyền thoại truyền miệng trong dân gian. Truyền rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân làng nơi đây không mấy mặn mà với khói nhang, tượng phật. Đức Thánh tổ giận dữ mới rời chùa đi nơi khác.

Chù Keo Hành Thiện.


Trong một đêm, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, rồi tất cả tượng phật ngài đều cho cả vào đấy. Ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình, mang theo tất cả tượng phật về nơi đất mới. Cũng nội trong đêm ấy, khi dân làng Duy Nhất (huyện Vũ Thư – Thái Bình) tỉnh giấc đã thấy ngôi chùa sừng sững mọc lên. Đức Thánh tổ rời bỏ chùa cũ cùng với lời nguyền: sẽ không có sư nào đến ở đất Hành Thiện.
Theo lời nguyền đó, sau này, nhiều lần các vị sư theo sự phân công của Hội Phật giáo về trông coi chùa Hành Thiện, được dăm ba ngày chẳng hiểu vì lý do gì cũng đều khăn gói ra đi. Cũng từ đó, đất Hành Thiện “có tiếng” là đất kỵ sư. Câu chuyện truyền miệng ấy cứ tồn tại theo miệng nhân thế, nó làm cho ngôi chùa càng mang theo những nỗi niềm dã sử.
Giải mã chùa không sư
Song hành cùng với chùa Keo Hành Thiện là sự có mặt của chùa Keo Thái Bình. Hai ngôi chùa cùng gắn với tên tuổi của Thiền sư Không lộ, người có công truyền bá rộng rãi đạo Phật trong nhân gian. Sự thiên di của chùa trong khoảng thời gian dài mấy thế kỷ (năm khởi nguồn xây dựng tại làng Dũng Nhuệ – Giao Thủy là 1062 – thời tiền Lý); về đất Hành Thiện năm 1588 và “kinh qua” đất Thái Bình năm 1611.
Về mặt quy mô, chùa Keo Thái Bình bề thế hơn nhiều so với chùa Keo Hành Thiện, thế nhưng về kiến trúc là sự mô phỏng gần như nguyên vẹn. Cả hai ngôi chùa đều được dựng bằng gỗ lim, liên kết với nhau bằng mộng ngậm, đinh tre, mộng vược…

Cụ Thế – người kế nhiệm giữ chức thủ từ.


Nghiên cứu về kiến trúc chùa Keo là cả một quá trình đòi hỏi mất nhiều công sức, bởi nó tiêu biểu cho kiến trúc thời tiền Lý và hậu Lê, thời kỳ Phật giáo thịnh trị trên đất nước ta. Sau gần một ngàn năm Bắc thuộc, từ thế kỷ 10, dân tộc ta giành quyền tự chủ, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ cả về chính trị và văn hóa. Thái Bình và Nam Định khi đó được coi là những vùng “kinh tế mới”, gắn với phong trào mở rộng dân cư, khai hoang, lấn đất lập nghiệp.
Cùng với việc xây dựng cuộc sống vật chất của người dân thì các nhà sư cũng đến đây để xây dựng đền chùa, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho các cư dân vùng đất mới.
Theo sử sách, vùng đất này có tên gọi là Keo hay vùng đất Giao Thủy, nơi nước sông gặp gỡ với nước sông, nước sông gặp với nước biển tạo nên những vùng hồ nước mênh mông. Trong cái khoáng đạt của tự nhiên như thế, con người phải đối mặt với biết bao thử thách, bao rình rập của tự nhiên, thú dữ.
Người ta cần tìm đến những đấng thần linh để được che chở về tinh thần. Đó cũng là lý do để những ngôi đền, chùa mọc lên với cường độ nhiều ở giai đoạn này. Còn căn cứ theo năm xây cất của chùa Keo Hành Thiện và chùa Keo Thái Bình, so sánh với năm sinh, năm mất của Thánh Không lộ Thiền sư có thể thấy được đó chẳng qua chỉ là sự mở rộng phạm vi truyền bá Đạo phật của các bậc tăng ni trong dân chúng. Đức Thánh Không Lộ sinh năm 1016, mất năm 1094.

Đến Hành Thiện sẽ không khó để gặp những cảnh bình yên…


Thời gian ngài sống gắn với việc xây cất chùa Keo trên đất Dũng Nhuệ (huyện Giao Thủy); sau này do trận lụt lớn năm 1611, chùa dời về đất Hành Thiện. Hơn 20 năm sau, chùa Keo Thái Bình mới được hoàn thành (năm 1632). Như thế, sự mở rộng về không gian đó chẳng qua là sự mở rộng phạm vi truyền bá của Phật giáo, do những bậc tăng ni hậu thế kế tiếp công việc của Thiền sư Không lộ.
Còn giải thích cho tích “chùa không sư Hành Thiện”, có chăng đó là do những chướng khí hay sự không hợp đất, hợp nước mà sinh ra đau ốm của những vị sư đã có lần đến với chùa rồi sau đó mau chóng ra đi!?
Cụ Thức cho hay: “Cả xóm Hành Thiện với 35 hộ dân, hiện tại đều sinh sống trên đất hương hỏa của nhà chùa. Trước, nguyên khu đất này được triều nhà Lý cắt đất cho Đức Không Lộ, nên cả làng phải thay nhau cắt cử để trông coi, thờ cúng ngài. Đó là “cái lý” mà người dân thôn Hành Thiện làm công việc nhang khói, trông coi chùa thay sư sãi”.

Di Linh(Vietnamnet)

Còn ai kêu cho những cây thông không biết nói

Khi nhà thơ bị bóp cổ nghẹn lời

Rừng nguyên sinh vung lưỡi rìu quỉ đói

Rắc rắc cây xô cốc chạm quỉ vang cười

Chúng nó nhậu từng cánh rừng giải núi

Từng khoảng trời miệt đất lòng khơi

Nhậu tất cả từ Vua Hùng để lại

Nhậu đến nàng Tô Thị rã thành vôi

Chúng nó nhậu trên thân em trinh bạch

Trên lưng mẹ già còm cõi một đời bom

Con mất xác dưới chân thành Quảng Trị

Mẹ khoét hầm nuôi tiếp biết bao con

Kìa mẹ về run rẩy dưới mưa tuôn

Qua cửa vi-la thấy đàn con ngồi nhậu

Những đứa con thoát chết vụ khui hầm

Đang tưng bừng nâng cốc tụng nhân dân

Tổ Quốc rùng mình trong cơn nhậu nhẹt

Có nghe chăng con cháu ngợi ca Người

Và hạ bút ký hợp đồng cái rẹt

Hợp đồng này giầu đẹp lắm Người ơi !

Đà Lạt 1993
Bùi Minh Quốc

Ánh đuốc lập lòe trong đêm hoang vu
Chiếc xe tải lớn được xử dụng như một trung tâm điều khiển di động của nhóm săn ma ( nếu là ở Mỹ, họ sẽ có xe thùng, nhưng ở đây, họ buộc phải chấp nhận làm việc trong xe tải ). Nhóm 4 người rời khách sạn, tiến về phía “ cánh cổng ma “ vào khoảng 4h chiều, khi ánh sang chói lọi khiến tháp Angkor wat nổi rực rỡ dưới nền trời chiều. Họ hy vọng sẽ lắp đặt xong thiết bị và sẵn sang chào đón các oan hồn trước khi tắt nắng. Đêm đen sẽ là đồng minh than thiết của họ, dù trong đêm, họ chỉ là những con người yếu đuối trước sức mạnh bí ẩn của những người đã chết.
Xuyên qua con đường gập ghềnh, cánh cổng ma nằm cô độc trong nắng chiều im lặng ngó xuống nhóm của Kinsley. Những phiến đá ngàn năm tuổi chả buồn để ý tới vài kẻ điên rồ mang tới rất nhiều bong đèn, dây điện và máy móc, vây xung quanh khu vực Ghost Gate. Họ đang cài bẫy linh hồn. Giống như mấy lần đi săn trước, thiết bị được Kinsley ưu ái nhất vẫn là các máy quay, đặc biệt là các máy có khả năng ghi được hình ảnh trong bong đêm nhờ xử dụng tia hồng ngoại. Mười sáu chiếc máy quay rãi rác xung quanh cánh cổng ma sẽ truyền hình ảnh trực tiếp về phòng điều khiển được đặt trong xe tải. Hơn nữa rất nhiều bong đèn cao áp loại cực mạnh cũng được dàn chung quanh chân tháp khiến Ghost Gate càng thêm phần kỳ dị, vừa sang rực trên nền trời đêm, vừa bí hiểm với những hóc tối đen đầy đe dọa.


Bốn thành viên sẽ không tập trung hết cả vào việc theo dõi màn hình như mọi lần. Nhiệm vụ ấy được giao cho Steve Hock. Kinsley kéo Steve Harris ngồi xuống bên phải cánh cổng, máy quay ở trạng thái sẵn sang. Họ không muốn bị phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống tự động để rồi lại mất dữ liệu như lần trước. Họ sẽ cố gắng bằng mọi giá ghi lại hình ảnh của linh hồn, tất nhiên trong trường hợp chúng xuất hiện. Ở phía bên kia. Kinsley mĩm cười khi thấy Lawrenson lăm lăm chiếc máy tương tự, hơn nữa, trong tay anh ta còn chiếc máy ghi âm. Hẳn là anh ta phòng hờ bong ma cũng để lại thông điệp âm thanh nào đó như lần chạm trán linh hồn ở nhà tù Alcatraz.
Nhanh chóng ăn vội miếng bánh mỳ và tu nước ừng ực ( thời tiết vẫn còn nóng quá ). Kinsley tập trung hoàn toàn cho công việc. Mỗi lần nhánh cây nào đó chuyển động , anh ta lại giật nảy mình như có ai đó gõ vào đầu.Dẫu là tiếng côn trùng hót lảnh lót trong đêm Kinsley cũng cảm thấy giống như ai đó đánh trống trong đầu mình. Anh đang tập trung cao độ, đang căng thẳng và lo lắng. Vô ích, Trãi qua mấy lần săn ma, sự kiên nhẫn của Kinsley được tôi luyện nhiều. Tuy vậy, cảm giác hồi hộp giết chết dần những giọt kiên nhẫn cuối cùng trong người anh. Nếu thất bại chuyến này, anh sẽ phải chấm dứt công việc quan trọng hơn, anh phải rời xa niềm đam mê của mình. Đồng hồ trên chiếc máy quay nhấp nháy chậm chạp và chuyển dần đến nữa đêm. Họ đã chờ bong ma gần 4 giờ nhưng xung quanh họ vẫn chỉ có tiếng côn trùng rả rich và đôi lúc vài nhánh cây xao động vì gió thoảng, Mọi sự bình yên
Mọi sự không bình yên, hay nói đúng hơn, biến cố lien tiếp xãy ra khi đồng hồ hiện lên bốn số đơn giản 00:00. Nữa đêm.. Nữa đêm, theo quan niệm của phương Đông, là lúc giao thừa hai ngày, là thời điểm linh hồn giải thoát khỏi sự cầm tù và đi lang thang trên dương thế. Đúng như vậy chăng ???

00:00, mạch máu trên thái dương Kinsley căng phòng.Tưởng như anh không thể chờ đợi lâu hơn được nữa.Bất thần tất cả đèn điện phụt tắt. Không gian tối om,bong đêm đặc quánh xung quanh Kinsley ở ngay bên cạnh, Kinsley có thể cảm nhận thấy Harris đang run rẫy, anh ta sợ hãi là phải, có bao giờ anh ta sống trong bong tối ghê rợn thế này đâu. Harris định lao tới xe tải để tìm cách khắc phục hệ thống điện, song Kinsley kéo anh ta lại. Sự việc này chắc chắn không phải sự trùng hợp, rất có thể các bong ma đang dàn dựng sân khấu để xuất hiện, trêu chọc đám người trần mắt thịt. Như thế thì tốt, vì chiếc máy quay của Kinsley vẫn đang hoạt động bình thường.

Kinsley như phát sốt, than thể anh nóng rực lên. Từng thớ gân trong người căng ra như thể sắp bước vào trận chiến sinh tử. Anh không phải chờ đợi lâu. Câu chuyện kể về những bong ma nhảy múa tái hiện ngay trước mắt Kinsley . Giữa đêm đen, gần chục đốm lửa như là bó đuốc bay lượn. “ghẹo” nhau xung quanh cánh cổng ma. Gió mùa hè thổi mạnh, song những” ngọn đuốc”không mảy may bị ảnh hưởng. Chúng nhảy múa theo một quy luật nào đấy, vừa hỗn loạn, vừa mê say. Không một con người trần tục nào lý giải được việc những “đốm lửa” lập lòe ma quái bay trong bong tối. Đúng ra, Kinsley chả nghỉ gì tới việc giải thích này nọ. Tâm trí anh chỉ nghỉ tới việc quay phim, từ lúc “đốm lửa” thứ nhất xuất hiện. Như thể true ngươi tay thợ săn ma, trong không gian vọng về những tiếng gào rú xen lẫn khóc lóc. Lúc ấy, Những đốm sang tưởng như cũng rung rinh vì xúc động. Những “đốm lửa” thôi nhảy múa , Cúng vặn vẹo biến thành những bong dáng nhòe nhoẹt giống như người. nữa hư nữa thực. Âm thanh hoang vu trong đêm to thêm, càng lúc càng thê thiết. Dường như sự sống ngàn năm trước đang trùng trùng trỡ lại chốn dương gian

Thời gian chầm chậm trôi, hay Kinsley không còn cảm nhận được nhịp sống nữa. Anh xúc động tới mức đứng như chon chân tại chổ, tay không quên hướng máy quay về phía cánh cổng ma. Khoảng 3 phút, hiện tượng kỳ lạ chấm dứt. Chiếc đũa thần ở đâu đó gõ nhẹ, và không gian lại tràn ngập ánh sang tựa như chẳng có gì xãy ra. Kinsley giật mình bước ra khỏi cơn mê. Tảng đá lăn trên ngực Kinsley được gở xuống khi thấy chiếc máy quay vẫn đang cần cù ghi lại tất cả hình ảnh và âm thanh, Anh đã “bắt” được ma .

Phải anh đã “bắt” được ma. Kinsley gào to trong đêm tối, Anh đã thu được thành quả mà cả nhóm vất vã săn tìm gần một năm trời. Đoạn phim quay lại cảnh đốm lửa- Kinsley quả quyết đấy chỉ có thể là bong ma- nhảy múa xung quanh cánh cổng Ghost Gate. Hình ảnh rất rõ nét, thậm chí âm thanh cũng khá đầy đủ. Đây sẽ là bằng chứng không thể chối cãi về sự có mặt của linh hồn trong xã hội loài người trong thiên niên kỷ thứ ba.

Bên cạnh Kinsley, ba người cộng sự than thuộc cũng gào thét vì vui sướng. Họ đã làm được điều kỳ diệu, họ đã tìm ra con đường giải thoát cho những người ngày càng mê muội trong cuộc sống vô tín ngưỡng. Thế giới này quả thật tồn tại :”TÂM LINH” – ít nhất, đó là điều mà nhóm săn ma tin chắc sau những gì họ chứng kiến tại Angkor wat.

Trời chuyển dần về sang. Bốn kẻ “điên rồ “ vẫn chưa thôi hò hét. Từ trong bong tối cô tịch của tòa tháp vĩ đại, tiếng vọng vào vách đá nghe như hợp xướng của những linh hồn cổ xưa
-HẾT-

GDVN) – Một cảnh sát ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc luyện được 1 tuyệt kỹ, dùng tờ tiền giấy 100 tệ chặt đứt đôi đũa gỗ.

 
 
Nếu không trực tiếp chứng kiến chắc khó ai có thể tin được một tờ tiền bằng giấy coton mỏng manh lại có thể chặt đứt một đôi đũa khá cứng.

Phóng viên và những người có mặt tại đó chưa tin, anh lại tiếp tục thử lại một vài lần, thậm chí chập 2 đôi đũa làm một anh vẫn chặt đứt như thường.

 
 
 
Cao thủ này tên là Phùng Tư Cang, một đồn phó cảnh sát địa phương. Để luyện được tuyệt kỹ này, anh Cang cho biết không phải một sớm một chiều.
 
Anh đam mê tập võ và khí công từ nhỏ, lại là người rất thích khám phá, luyện tập tuyệt chiêu này nhiều năm và cuối cùng anh đã thành công.
 


 

OZ

Tôi tạo ra blog này chỉ đơn thuần là một sự đam mê huyền thuật, cho nên tất cả những gì được viết và lưu trữ tại Blog này đều được sưu tầm, tổng hợp từ Thế giới net.
Xin cảm ơn bằng hữu đã ghé thăm tệ xá của tôi, trong khói trầm lả tả giữa đêm khuya nào hãy cùng khám phá Thế giới huyền bí trong Blog này!
Hãy cho đi rồi bạn sẽ nhận!
Chúc các bạn thâm tâm an lạc.
OmaniZen cẩn bút

RSS Tin Tức

RSS Ẩm thực chay

RSS http://dantri.com.vn/xa-hoi.rss

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Lý học phương đông

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

Blog Stats

  • 267,245 hits

Categories

December 2018
M T W T F S S
« Sep    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31