Thanh Pali
Vào thập niên 80, người bà con của Thầy có giao vài công đất ở gần núi ông Trịnh. Thầy trò hay rủ nhau, thay phiên lên ở đó, vừa trồng trọt hoa màu cải thiện đời sống, vừa có chỗ thanh tịnh luyện phù. Vì thấy khí hậu mát mẻ tốt tươi, mình âm thầm trồng một số ngãi nghệ để sau nầy xử dụng. Một số huynh đệ đã thấy mình tom ngãi vào những đêm trăng sáng. Họ có hỏi thầy sao mà thầy chỉ cho mình mà không chỉ cho họ? Thầy chỉ ậm ừ cho qua, nói là chỉ trồng làm thuốc, có vẻ ai nấy không tin… các huynh khác hỏi kêu mình chỉ thì mình nhớ lời Thầy Tư Ngỡi nói thác đi là không biết, có gì thì hỏi sư phụ, cứ vậy mà hai thầy trò pát xê qua lại… Từ đó huynh đệ có vẻ không tin và tỏ ý không ưa mình!… Thầy kêu đem xa xa ra mà trồng cho đừng ai để ý, chưa kịp di dời thì một hôm thấy mấy chậu ngãi bị đập nát luôn. Chiều hôm đó có một huynh đi cầu và tiểu ra máu, ôm bụng than Trời… Thầy sai chở đi trạm xá thì lại không có bịnh tình gì. Về sau huynh ấy tuy ăn nhiều mà lúc nào cũng ốm xanh lè, uống thuốc xổ lải thì không có chi hết. Thầy Tư liền cúng cho hoàn hồn và kêu xe cho về thành phố cho xong… Tai tiếng và lời đồn về mình càng lúc càng lan rộng, ngày kia học trò sư Bá cũng nghe, và nhứt định là sư Bá không bao giờ để yên vụ nầy. Mình có bàn với sư phụ hay là công khai đưa luôn ngãi nghệ vào môn phái và truyền bá cho chư huynh đệ cho xong. Thầy chỉ lắc đầu thở dài: Môn quy khó vượt. Những lời rỉ tai nhau về mình tới lúc đáng báo động. Nào là dùng tà ngãi hại huynh đệ, mê hoặc thầy, phá sư môn, giao du phái tà đạo. Năm ấy vì lý do an ninh văn hóa địa phương nên giỗ Tổ đã không Tổ chức ở nhà thầy như mọi khi. Các đệ tử đều được báo trước và tụ hội ở chỗ Sư Thúc làm giỗ Tổ.

Mỗi kỳ giỗ như vậy các đệ tử đều phải đem lá Sắc và sổ bùa của mình theo để tuỳ tình hình mà các sư phụ điểm hóa thêm cho đồ đệ. Sư Bá và đông đủ đệ tử của ông đều có mặt kỳ nầy. Râm ran một tin đồn là có sự thanh lọc nội bộ và tầng công lực sư Bá bây giờ vượt cao hơn cả sư phụ. Các sư huynh dạo nầy hay âm thầm ghé sư Bá thăm hỏi mà không hề cho thầy biết. Thầy Tư với mọi tin đồn vẫn tỉnh bơ… Số sư huynh đứng về phía sư Bá ra mặt ngầm chống đối mình và hay đem chuyện ngãi nghệ ra xỏ xiên lúc tán chuyện… sư phụ thì kẹt cửa giữa… chuyện học trò xài Thần quyền đánh lộn vô bổ đã lan xa… Sư Bá chê sư phụ hiền quá, không biết dạy học trò, để nó lờn mặt… Mình biết Thầy hơn ai hết. Ổng thương học trò như con, cái gì đáng nói đáng làm thì ổng đã làm rồi… còn sư Bá nặng về danh vọng vật chất, có biết hai chữ từ thiện là gì đâu. Ổng hay nói: Cứu chúng rồi có chuyện ai cứu mình đây? Sư Thúc thì khoẻ ru, không hề có đệ tử, vẫn ung dung trước mọi sự… Trong buổi lễ ngày đó, cây đinh bị đem ra mổ xẻ chính là mình. Có sự đàm luận chỉ trích sư phụ đã để đệ tử không theo truyền thống môn quy. Thọ học ngãi nghệ tà pháp. Đa số đều biểu quyết thâu hồi lá Sắc của mình (ý nầy do Sư Bá khởi xướng và một số sư huynh của mình đồng tình.) Nếu thâu hồi Sắc thì từ nay mình không còn là người của bổn môn. Cấm dùng danh bổn môn trong bất kỳ tình huống nào. Còn sư phụ vì nếu còn muốn ôm bàn Tổ buộc lòng phải đồng ý để giữ gìn gia môn. (Ngày trước thầy cũng dự trù là nếu để Sư Bá nắm bổn môn, chắc là nghiêng ngửa, và học trò rồi sẽ luyện ma sai quỷ làm khối chuyện kinh động thiên hạ mất.) Nên mình rất thông cảm với thầy… Sau khi lá Sắc bị thu hồi trước sự hễ hả của các sư huynh, tới cuốn sổ bùa 200 trang của mình cũng bị đem ra hỏa thiêu trước sự chứng kiến của mọi người. Đâu ai dè là mình đã thuộc nằm lòng tất cả. Chỉ tiếc cho những nét bùa do chính tay thầy nắn nót nay đã không còn. Sư Bá xung phong thay thầy thắp nhang tác bạch trước bàn Tổ trục xuất mình ra khỏi sư môn… Sư phụ im lặng không một lời bào chữa… chỉ có Sư Thúc mỉm cười bí ẩn nhìn mình không chớp mắt, nụ cười nầy cũng từng diễn ra khi mình chia tay ổng hạ sơn vào năm nào… Lòng mình buồn vô hạn, sao thấy thương thầy quá. Còn thân phận mình có sá chi. Trước bàn Tổ mình phải lớn tiếng thề không bao giờ được nhân danh sư môn điểm đạo truyền pháp cho ai hay là thu nhận đệ tử. Các sư huynh mắt sáng lên, hỉ hả ra mặt. Đêm đó mọi người ai nấy ăn uống hàn uyên vui vẻ… Ngồi cạnh Sư Thúc ổng nói: “Tao biết mấy cái ở trong bụng mày thì làm sao mà đốt được. Mày không đốt ai thì thôi phải hôn? Sau nầy có buồn tình cứ lên đây mà sống với tao, nuôi cơm mày thoải mái luôn, đừng có buồn. Nghe lời Sư Thúc tôi thấy lòng mình như ấm lại… Lúc đồ ăn dọn lên, tôi ăn chay, không có ngồi chung mâm với ai, Sư Thúc thì ngồi kế vợ con rồi, mình lân la tới e bất tiện nên đứng chơ vơ, chưa biết phải ra sao, lạ quá. Ngần ấy năm Trời mình là người nhà, nay chỉ trong phút chốc đã làm khách lạ. Cảm giác, mình thừa thãi ở đây vô cùng. Lúc ấy đột nhiên sư huynh Định tay bưng một tô chè tới đưa mình, cười cười nói:
– Ở đây cái gì cũng mặn, chỉ có cái nầy là chay dành cho ông thôi!
Huynh Định nhập môn trước mình một năm hơn, huynh hay đố kỵ mình trước nay vì gần gũi thầy nhiều. Thời gian gần đây hay chủ động lôi kéo chư huynh khác bài xích mình. Hồi tảng sáng có thấy huynh ta hái một trái bình bát sống xanh lè. Mình có hỏi hái chi vậy? Huynh ta cười cười nói hái để “chơi” , giờ đây huynh ta lả giả: – “Chuyện vậy là xong nghe, là do bề trên xử, chớ tui với ông không có gì buồn nhau trước nay, tui không có dính líu gì. Thôi ông ăn tô chè khoai lang nầy cho mát bụng.
Mình đón tô chè, nói:
– Có gì đâu, cám ơn nấu chè cho ăn,
– Tui biết ông chuyên môn ăn cây củ, nên ráng nấu cho ông ăn đó. Thôi ráng ăn hết tô đi nghe. Dứt lời huynh ta đi về phía tập thễ chống đối mình. Sư phụ có vẻ không màng gì hết, chắc là ổng cũng dự trù tình thế nầy trước rồi… ổng không hề ngó ngàng hay nói năng chi nữa với mình… có một vài sư đệ ngó mình với ánh mắt thân thiện thông cảm mà không dám tới gần trò chuyện, mình khẽ nhìn họ gật nhẹ đầu chào, rối cầm tô chè biến ra ngoài xa mái hiên, leo lên một gộp đá thâm thấp ngồi ăn. Ở đây không có ai, chỉ có mình và lũ chồn đi ăn đêm tò mò ngó nhau… ăn thử một muổng, là chè khoai lang, khoai mì… vị chè ngọt mà ăn sao vẫn đăng đắng ở cổ họng. Chắc là tại khoai có sùng… Ăn hết tô chè, móc thuốc ra hút, đang nghỉ vẫn vơ, thì “Bốp“ một cục gì bay tới trúng đầu khá mạnh mà không thấy đau, nhìn lên thì thấy sư phụ đang nhìn mình, ổng nói nhanh:
– Ủa! Mày ngồi đây tối qua nên tao không thấy, quăng rác trúng mày.
Rồi ổng quảy qủa đi vô trong, sau lưng ổng là mấy huynh bên sư Bá và huynh Định ngó lom lom mình, họ ha ha cười. Đợi cho ai nấy vô khuất mình mới để ý trở lại, buồn tay lượm cái vỏ bao thuốc lá thầy chọi trúng mình. Mở bao ra, không còn điếu nào, buồn tay vô tình móc tờ giấy bạc bọc thuốc ra, đầu ngón tay vô tình nhận được lờ mò những nét hằn như chữ viết trên đó. Đưa lên xem thì không thấy 1 nét mực nào hiện ra, tờ giấy vẫn trắng không, thì ra chữ viết có thễ có thễ hằn lên lớp bạc của giấy bởi một cây tăm hay cái gì tương tự như vậy. Mình kín đáo xếp nhỏ tờ giấy bạc ấy lại cỡ ngón tay luồn luôn vô bâu áo sơ mi, chớ không để vào túi áo, sợ có người để ý. Lập tức đứng lên, bước ngay vô nhà, linh cảm ở đây có gì đó không ổn. vừa xê bước thì Bốp! Bốp bốp! 3, 4 hòn đá bằng nắm tay không biết từ đâu bay tới chỗ mình vừa rời khỏi, may phước không thì bể đầu vỡ sọ. Ở đây có chỗ nào mà cấp cứu trên núi non giờ nầy. Nguy hiểm đã tới…. Không dám chậm trễ bước nào, mình đi nhanh vô nhà ngay, đã vào vùng ánh sáng, tiếng Sư Bá lớn oang oang:
– Ê! Kỳ giỗ nầy không có ông Tư Ngãi tới, nên ông phái học trò ruột đi thế ổng tụi bây ơi! Tiếng cười ai nấy rộ lên. Có ai tiếp lời:
– Ê coi chừng bị bỏ thuốc độc sình bụng chết đó! Ha ha ha…
Sư phụ liền nói:
– Bây giờ mày không còn là người bổn môn, coi mai sáng lấy quần áo về dưới sớm đi! … “ Dạ “…
Giờ nầy Sư Thúc mới lên tiếng:
– Nó không còn là đệ tử anh, chớ là con cháu của tui, Thanh, mày cứ ở đây chơi chừng nào chán thì về, coi chừng giùm tao thằng nào đái bậy thì chửi vô mặt nó để nó làm ô uế núi non hết.”
Cả đám nghe tiếng Sư Thúc im phăng phắc, ổng không có một đệ tử nào, chỉ một thân một mình mà ai cũng phải nể. Sư Bá tằng hắng một cái rồi moi cục thuốc rê quấn trong túi ra vấn hút… Mình đi xuyên qua bao cặp mắt, thẳng vô buồng trong, ở đây không có một ai, túi hành trang của mình đã bị ai đó xốc tung đổ đống hết xuống đất, mình kiểm lại không mất món gì. Mà còn gì quí để mà mất nữa, bị đốt hết trọi rồi… gối túi hành lý dưới đầu mình cố dỗ giấc mong Trời mau sáng… í mà hâm ba ga va at ta bà vam… Hơn 6 giờ sáng giật mình tỉnh giấc bước ra, không thấy sư phụ, sư Bá và một số huynh đệ. Nghe nói là cùng vô rẫy lấy thuốc lúc Trời còn sương… đầu mình nhức tăn tăn, dụi mấy cái liền mà sao mắt vẫn còn mờ…. cố gượng rửa mặt rồi vô chào Sư Thúc mẫu, mình lần đi xuống núi… Sư Thúc chạy ra ngoắt lại cho mấy cái bánh ít đi đường ăn và vỗ về ít câu… Mình khởi hành xuống, linh cảm có gì đó không hay, hai mắt mờ quá, dụi hoài, càng dụi càng mờ hơn. Sao kỳ vậy? Đường núi đã thuộc sau mấy năm lên xuống, tuy mắt mờ mà đi không mấy khó khăn… Thấy như bao tử nó không tiêu nổi tô chè hồi đêm qua… cổ họng đắng và thấy khát nước quá đỗi… lại thêm thở ra mùi hăng hăng rất lạ… dần dà tay chân mướt mồ hôi mà lạnh ngắt hết… quai hàm từ từ cứng lại, nuốt nước miếng rất là khó khăn… cổ họng nóng rát… Nước dãi tuôn ra liên tục… kỳ… quá… đã tới dưới chân núi rồi… Mắt mờ đi 50%…. Độ 10 phút đi nữa thì tay chân cứng ngắc hết trọi. Mắt đã mờ 90%! Hự! Vấp phải cái gì đó té sấp nằm dài. Thân không mấy gì có cảm giác đau… Mình mẩy như tê dại đi luôn… Thần trí mơ hồ. Còn chút nhận thức biết là mình đã trúng Độc! Trời ơi! Chết rồi! Ở đây làm sao có thuốc trị, có ai cứu tui với… Thầy ơi! Cứu con… âm ba phát ra gào thét điên cuồng trong đầu, mà không sao mở nổi miệng kêu la cầu cứu… phải nhờ ý chí mãnh liệt của Sơn Thần: ê hế no tho ngan mê brây… ê hế mê bờ rây cô ma zăn… êhế ná má bá tá… Na cà xa dá… cứu độ đệ tử. Cầm cự bởi thần chú một hồi. Một luồng khí nóng hực chạy trong xương sống rào rạt, ráng dồn khí xuống đan điền, tưởng Thần quyền ở trán… chuyển ra 2 tay… 2 tay căng cứng lên, rồi chống đất nhỏm dậy như rắn hổ mang. Con mắt lúc nầy tối 100%, đầu óc nặng chịch, mơ hồ nghe giọng đàn bà la lên:
– “Có người té núi nè, bà con ơi!“… cảm giác có người xốc nách mình dậy, thêm ai đó vả vả vô mặt, có ai nói: Trúng gió rồi, ai có dầu không?
– Có gừng được hông? – Đưa đây cho tui.
– Lúc đó mình gom hết sức la lên: “Phèn chua, làm ơn cho tui phèn chua liền. Tui bị trúng độc. “Cái gì? Phèn chua chi vậy?“Ổng nói phèn chua thì cứ lấy cho ổng đi.”
– Mình bị đè cạo gió đầy lưng, nguy hiểm quá, mình sắp chết, họ không hiểu rồi, càng cạo càng chết lẹ hơn, may sao có ai la: Nè! Phèn chua nè, mình đâu thấy đường xá gì, chỉ sè tay ra đại, có ai bỏ cái gì vô một nắm… Mình nhét vô miệng nuốt luôn, lạnh- đắng – chua! Đúng nó rồi, lưỡi mất cảm giác nhiều, cố nuốt muốn uống nước vô, độ vài phút sau thì bao tử nhồi bóp dữ dội, lắc lư cả người, nôn thốc nôn tháo ra tất cả những gì có trong bao tử, có ai đó đàng sau nắm giữ 2 vai mình lại. Mình rửa mặt, súc miệng, uống nước gừng vô… Tỉnh lại từ từ rồi, cả người nóng lên vì nước gừng. Chỉ còn 2 bàn tay chân là lạnh thôi, giải tán chất độc đã 80%. Thì ra đó là độc tố của hột bình bát sống. Bây giờ mình đã sống còn rồi, có nên trả thù hay không, việc ấy để tính sau, mau về tịnh dưỡng đã. Ngồi trên xe đò về Sai Gòn, mình chợt nhớ thầy, móc bâu áo lấy tờ giấy bạc bọc thuốc ra, đưa lên mặt Trời, mới thấy những nét hằn ghi lại Thần chú thâu và xả Tổ cho mình cũng như cho người khác, chú yếu quyết của bổn môn!… Thấy nhớ Thầy Tư quá. Thầy ơi, thầy luôn là số một của con… Mãi mãi là vị sư phụ của con!… Mình không cảm thấy ghét ai, kể cả sư Bá… duy chỉ có huynh Định nhẫn tâm hạ độc, thật là vô tâm, rồi đây không biết có còn ai là nạn nhân nữa không? Có may mắn sống còn như mình không? Mấy tháng sau nghe nói huynh ấy đi làm rẫy đạp nhằm xương rắn hổ, bị ăn lỡ lói thủng hết thịt ở bàn chân, nhìn thấy gân xương bày ra lồ lộ, vô phương thuốc men chạy chữa, dù thầy đã tận tình… Huynh ta không còn đạp xích lô được nữa, mỗi ngày phải chống nạng phụ vợ bán rau ngoài chợ, nghe mà xót xa cho… Còn mình bây giờ làm sao? Cuộc sống đã mất một phần quy củ, không đến nhà thầy vì giữ tiếng cho thầy, cũng không dám tới huynh đệ nào vì ngại họ khó xử với đồng môn.
– Sư Thúc đã nói: Cái cây phải lớn mạnh giữa đồng, vì nó không núp dưới tàn cây nào phủ trên nó.
– Thầy Tư Ngỡi nói: Con có thễ là một thầy bùa… Hai Thầy Ngãi… Mà chắc là con chọn con đường thứ 3… Hỏi Sư Thúc thì biết!… vậy là… A, là Thầy Chùa! Đúng rồi! Mà thực ra thì cũng không có nhiều để chọn, trong trong 2 chỉ chọn 1 thôi, là sống cho mình hay cho tất cả! Ta sẽ sống vì mình và vì tất cả tấm lòng của ai hướng về ánh sáng hy vọng!

(Còn tiếp)