1.SAPHIR ( Sapphire )

Công thức :
Al2O3Tên gọi : thuật ngữ “xaphir” xuất phát từ hy lạp Sapfeiros mà từ này có thể bắt nguồn từ từ do thái cổ Shappir và từ Ấn Độ Sanipriya có nghĩa là “được Saturn yêu mến”.
Tên gọi khác, biến thể: Yakhont màu xanh da trời–tên gọi saphir trong tiếng Nga cổ.
Những đặc điểm chính : Saphir là một biến thể của coridon.
Sắc thái xanh lam của nó là do các tạp chất chứa titan và sắt. Còn có saphir màu vàng, xanh lá cây, tím và thậm chí cả hồng.
Tính chất vật lý:
– Độ cứng : 9,0
– Tinh hệ : Ba phương
– Tỷ trọng : 4,0 g/cm3


– Ánh : Thuỷ tinh

Tính chất chữa bệnh:
Để làm xuất hiện những tính chất chữa bệnh của saphir, người sở hữu nó phải là người thông thái và tốt bụng. Không phải ngẫu nhiên mà saphir được gọi là “đá của các nữ tu”, nó giúp họ gìn giữ trinh tiết. Người ta cho rằng saphir có năng luợng cảm thụ; Chúng làm giảm huyết áp, có tác dụng chống mất ngủ, đau lưng, cảm mạo và thậm chí cả với ung thư. Nhẫn, vòng tay gắn saphir đeo ở tay trái giúp điều trị bệnh hen suyễn, bênh tim và bệnh đau dây thần kinh. Người ta tin rằng, saphir có khả năng chữa khỏi bệnh phong và “mọi thứ u ác khác”. Nước ngâm saphir giúp chữa các bệnh về mắt.
Tính chất khác:
Từ xa xưa, saphir đã được coi như biểu tượng của sự thông thái, quyền lực, chiến thắng và sự công bằng. Người ta cho rằng, saphir làm cho con người trở nên bình tĩnh, chế ngự niềm đam mê và có khả năng ảnh hưởng tới dòng chảy của thời gian. Đặc biệt “có sức mạnh” là những viên đá mà nhờ có tạp chất rutin nên khi mài xong sẽ xuất hiện ba tia sáng cắt nhau trên bề mặt của chúng. Những viên đá này có liên hệ với các sức mạnh vĩ đại là niềm tin, hy vọng, tình yêu. Người ta cũng cho rằng nhẫn gắn saphir giúp cảm nhận được lời nói dối. Nó cũng có khả năng giúp con người tìm được mục đích trong cuộc sống, vựơt qua sợ hãi, lười biếng và sự vô công rồi nghề, đánh thức sự khát khao kiến thức. Saphir là biểu tượng của chòm sao Nhân Mã trong cung hoàng đạo, năng lượng cảm thụ của âm có tác dụng đối với luân xa vùng trán: Tác động tới các cơ quan ở vùng đầu. Luân xa này có liên quan đến kinh mạch đi qua bàng quang và ruột, nó giúp thực hiện những ý tưởng, kích thích tính hoạt động thể lực.
Công dụng khác:
Thứ trong suốt có màu đẹp dùng làm đồ trang sức. Saphirloại chất lượng kém nhờ có độ cứng cao được dùng để làm chất mài. Người ta dùng nó để chế ra các đĩa, bàn mài, giấy ráp, dùng trong kỹ nghệ kim loại.
Nguồn gốc sinh thành:
Thường thấy trong các đá magma sâu giầu alumin và nghèo silic, như syenit có corindon và anoctozit, cùng với felspat, hiếm hơn cũng thấy trong các đá khác (Andesit, bazan…). Ngoài ra còn thấy những pegmatit syenit chứa corindon có giá trị công nghệ. Các đá có corindon cũng có thể thành tạo do hiện tượng biến chất khu vực của các đá trầm tích sét.

2.Opal

Opal có công thức hóa học là : SiO2nH20Tên gọi của nó bắt nguồn từ tiếng Phạn upala – ” đá quý ” . Opal là silicdioxit ngậm nước , có nghĩa là thạch anh vô định hình chứa từ 6 – 10 % nước .
 Tên gọi khác biến thể :
-Alenkin – Có các đốm sặc sỡ loang lổ mầu đỏ , xanh lá cây , vàng và xanh da trời .
– Hyalit – Opal trong suốt trông như mầu thủy tinh .
– Girazol – Đá mầu trắng nhợt với đốm mờ phớt xanh da trời hay phớt đỏ .
– Opal hoàng đế – Opal có ruột mầu đỏ sẫm và phần rìa mầu xanh lá cây tươi .
Những đặc điểm chính : Có hơn một trăm biến thể với rất nhiều mầu sắc do chứa các tạp chất của sắt , mangan , niken và nhiều nguyên tố khác , tùy theo mầu sắc một số loại opal có tên gọi riêng . Tính chất đặc trưng của những loại đá này có thể không còn bị mất nước hoặc khi tiếp xúc với dầu mỡ .
Tính chất vật lý
– Độ cứng : 5.5 đến 6.5 – Tinh hệ : Vô định hình
– Tỷ trọng : 2.1 g/Cm3 – Ánh thủy tinh
Tính chất chữa bệnh :
Người Hindu cho rằng , opal có thể giúp cho trẻ e mau lớn . có ý kiến cho rằng , khi opal mất đi ánh lấp lánh là dấu hiệuk báo có bệnh ở chủ nhân của đá .
Các nhà thạch học trị liệu hiện đại cho rằng , opal phát triển trực giác và có ảnh hưởng tốt tới hệ thần kinh , tuyến yên và đầu xương . Cho rằng , opal điều hòa tất cả các chức năng của cơ thể và bảo vệ chống bệnh nhiễm khuẩn .
Tính chất khác :
Nhờ có sự phong phú về mầu sắc mà từ thời cổ opal đã là biểu tượng của sự thất thường , tượng chưng cho số phận hay thay đổi , nó làm cho trực giác trở nên tinh nhạy và giúp tạo ra cảm hứng . Ở Phương Đông , nhất là Ấn Độ , opal từ lâu đã được coi là đá của tình yêu , sự tin tưởng và lòng chắc ẩn . Bằng ánh lấp lánh trên bề mặt viên đá opal soi sáng trí tuệ , xua đuổi những ý nghĩ u tối và sợ hãi . Khi nhìn vào opal những thầy pháp Ấn Độ hồi tưởng những hóa thân của mình trước kia . opal là biểu tượng của hạnh phúc , hy vọng và tình yêu trìu mến dịu dàng . Những loại đá này liên tưởng đến những ý nghĩ trong sáng và sự đồng cảm .
Opal là biểu tượng của chòm sao Song ngư trong cung hoàng đạo , năng lượng chiếu xạ của Dương tùy thuộc vào mằu sắc của đá .
Công dụng khác :
Opal quý dùng làm đá trang sức , trang hoàng . Đá khuê tảo (tripôli) dùng để đánh các đồ kim khí . Kissengua dùng để chế đồ gốm , làm gạch nhẹ .
Nguồn gốc sinh thành :
Opal nhiều khi đọng trong suối nhiệt dịch và suối phun ở các khu vực núi lửa , đôi khi thành những thạch nhũ trắng , trong suốt có quang thái ngọc .Opal cũng phổ biến trong các hỗng và khe giữa những đá phún xuất . Đôi khi thành hốc khoáng và hạnh nhân . Những khối chính của Opal tạo thành trong điều kiện ngoại sinh , do sự phá hủy silicat trong quá trình phong hóa các đá .
Nguồn: Hoangthantai