1.Thạch anh vàng
Công thức : SiO2- Độ cứng theo thang Mohs : 7.0- Khối lượng riêng : 2.6 g/cm3 – Hệ tinh thể ba phương- Ánh thủy tinh- Thuật ngữ ” xitrin ” được Valerius đưa vào tài liệu khoáng vật học tự năm 1747 . Tên gọi của đá xuất phát từ Latinh citreus – “chanh”, nhằm ám sắc vàng của biến thể thạch anh này, màu của nó là do tạp chất của sắt hóa trị ba(Fe3+) tạo nên. Màu của chúng giống như màu của topa. Không phải ngẫu nhiên mà xitrin vàng ánh kim đôi khi được gọi là” topa vàng ánh kim”, còn xitrin vàng phớt nâu – gọi là”topa Tây Ban Nha”. Nói chung sắc thái thay đổi từ màu vàng sáng tới vàng hổ phách. Mỏ xitrin được phát hiện trên lãnh thổ Braxin, Tây Ban Nha, Pháp, Nga ( dãy núi Ural), Kazăcxtan, Hoa Kỳ (bang Colorado) và trên đảo Mađagaxca.Đặc biệt quý hiếm là loại xitrin bên trong có sợi tóc mầu vàng .Nhưng khoáng vật này làm đồ trang sức rất đẹp .
TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH
Trong thực hành Yoga chữa bệnh, xitrin được coi là loại đá kích thích đám rối dương và hoạt động của ống tiêu hóa. Thời cổ đại người ta tin rằng, xitrin giúp bảo vệ tránh bị rắn độc cắn. Xitrin có tác dụng trong điều trị bệnh viêm dạ dày, viêm thận – bể thận, viêm bàng quang. Xitrin kích thích hoạt động của não bộ và tích lũy trong cơ thể năng lượng sống. Ngoài ra, với các rung động của mình, Xitrin tạo xung quanh cơ thể aura (linh giác) bảo vệ có khả năng che chở cho con người khỏi các tác động bất lợi từ bên ngoài.

TÍNH CHẤT MÀU NHIỆM
Xitrin từ lâu đã được coi là đá của sự thông thái và yên bình, có khả năng cứu cong người ra khỏi tình trạng trầm uất. Ở La Mã cổ đại, các vị nguyên lão thường đeo bên mình những tinh thể xitrin, ví họ cho rằng những viên đá này giúp phát triển tài hùng biện và củng cố trí nhớ. Người ta cũng tin rằng, xitrin giúp con người hiểu nhau hơn và giúp củng cố những liên hệ tâm lí giữa con người với nhau. Đồ trang sức bằng xitrin nên dành cho các nghệ nhân chạm khắc, nhà kim hoàn, thợ đồng hồ – những người thực hiện những công việc thủ công tinh xảo. Xitrin giúp các nhân viên môi giới và chào hàng thu nhận được lợi ích từ những hợp đồng có được. Đối với những kẻ trộm, kẻ cờ bạc gian bịp bợm và kẻ gian lận, xitrin cũng phục vụ giống như với những người trung thực.
ẢNH HƯỞNG TỚI LUÂN XA
Đối với luân xa vùng rốn: kiểm soát ruột, thận và hệ tiết niệu – sinh dục; luân xa này tương ứng với tình yêu khác giới và sự thảo mãn trong tình cảm, tình dục; dự trữ năng lượng tình dục tập trung ở luân xa này
Đối với luân xa vùng đám rối dương: có ảnh hưởng tới gan, lá lách và các cơ quan khác vủa hệ tiêu hóa; luân xa này liên quan tới ý chí, điều khiển cám xúc và trí tưởng tượng.
Năng lượng cảm thụ của Âm.
CUNG HOÀNG ĐẠO
Cung Song Tử
TÊN KHÁC VÀ BIẾN THỂ
Topa Tây Ban Nha – tên đồng nghĩa của xitrin
Topa vàng ánh kim – tên gọi khác của xitrin.

2.Chalcedon

Tên gọi : Chalcedon là tên gọi nhóm khoáng vật gồm các biến thể của thạch anh nửa trong suốt, thạch anh vi tinh, ẩn tinh, thường có kiến trúc sferolit vì vậy những người am hiểu về bùa hộ mệnh gọi Chancedon cùng với agat và onix là ” mẹ pha le ” .Tên goị của loại đá này có lẽ là theo tên một địa phương ở tiểu Á – Chankeđon. Tên gọi khác biến thể : Đá của Mehico – tên gọi cũ của chanxedon mầu xanh da trời
– Đá mặt trăng màu xanh da trời – Chancedon mầu da trời
– Đá mặt trăng California – Chancedon mầu xanh da trời .
– Đá thánh Stephan – Chancedon màu xanh da trời
Những đặc điểm chính : Chancedon có những mầu sắc đặc biệt đẹp , đẹp được coi là đá nửa quý . Trong tự nhiên tạo thành những tập hợp có dạng rất khác nhau , có ánh mỡ đến ánh sáp , thường bị nhuộm mầu do bụi hematit tạo mầu đỏ , limolit tạo mầu vàng , clorit tạo mầu xanh …Những biến thể Chalcedon được chia thành : heliotrop , cacneon , xacđe , crizopra , và onix . Nói đúng ra Chalcedon thường được dùng để gọi những viên đá có tông mầu nhạt ( màu xanh da trời sữa , xanh da trời phớt xanh lá cây, phớt vàng ).
Tính chất vật lý :
– Độ cứng : 6.5 đến 7.0 – Tinh hệ : Ba phương
– Tỷ trọng : 2.6 g/Cm3 – Ánh : Mỡ
Tính chất chữa bệnh : Người ta cho rằng , Chacedon trước hết là biến thể mầu xanh da tròi có khả năng giải thoát người chủ khỏi cơn giận giữ và nỗi sầu muộn . Theo quan niệm cổ xưa , Chalcedon chứa trong mình các nhiên tố không khí và ete , vì vậy có tác dụng làm an bình tâm lý tình cảm của con người . Khuyên đeo đồ trang sức bằng Chalcedon đối với những người dễ bị kích động , ngoài ra nó còn giúp điều trị bệnh loạn thần kinh và chức năng trầm uất .
Tính chất khác : Theo các văn bản viết tay cổ , Chalcedon cũng giống như agat là bùa hộ mệnh của những người đi biển . chalcedon cũng được coi là viên đá của tình yêu , nó thu hút trái tim của đàn ông về phía phụ nữ . Chalcedon mang trong nó tính nữ vừa ban tặng cuộc sống và đồng thòi đầy mâu thuẫn . Người mông cổ gọi những viên Chalcedon mầu xanh da trời được tìm thấy trong hoang mạc Gobi là ” đá niềm vui ” và tin rằng chúng có khả năng xua đuổi nỗi buồn và tạo ra tâm trạng hứng khởi . Trong một văn bản cổ của Ấn Độ nói rằng loại đá này có ánh sáng của ý thức tinh khiết . Đồ trang sức bằng Chalcedon mầu xanh da trời có khả năng loại trừ nỗi sợ hãi , đem đến cho người chủ niềm tin vào sức mạnh của chính mình . Chalcedon là biểu tượng của chòm sao Nhân Mã trong cung hoàng đạo , năng lượng cảm xạ có tác dụng tới các luân xa tùy thuộc vào mầu sắc của đá .
Công dụng khác : Làm đồ trang sức , trang trí ,mỹ nghệ …
Nguồn gốc sinh thành : Chalcedon tạo thành các ổ trong basal , melaphyr , hạnh nhân và cả trong đá vôi , là khoáng vật thứ sinh nhiệt độ thấp .
Theo Hoangthantai.com