NGÀY THỨ TƯ

Vào ngày thứ tư có hỏa địa được tịnh hóa, thể hiện bởi A Di Đà Phật (Amitabha), bộ Hoa Sen (padma family). A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang và phẩm tính căn bản của hoa sen là có sức thu hút quyến rũ, nhiệt tình lôi cuốn, mở toang, trống rỗng và đại bi. Nói là Vô Lượng Quang bởi vì nó đích thị sáng chiếu một cách tự nhiên, không đòi hỏi sự khen thưởng. Nó có bản chất của lửa chứ không phải theo nghĩa cái nóng sân hận, nó tiêu dùng bất cứ chất liệu nào mà không hề từ chối hay chấp nhận. Ngài A Di Đà cầm trên tay một đóa sen, điều này có nghĩa : hoa sen nở khi mặt trời mặt trăng chiếu sáng lên đóa hoa, nó nở về hướng có ánh sáng và chấp nhận bất kỳ tình huống nào đến từ bên ngoài. Hoa sen có phẩm chất tinh khiết hoàn hảo ; với lòng đại bi như vậy, nó mọc lên từ trong bùn đất dơ bẩn nhưng đóa hoa thì trong sạch và toàn thiện một cách trọn vẹn. Ngài ngự trên lưng con công việc này lần nữa thể hiện sự mở trống và sự hoan hỷ chấp thuận : trong thần thoại, chim công được coi như nuôi dưỡng bằng chất độc, những màu sắc đẹp lộng lẫy của nó được tạo nên từ việc ăn chất độc. Sự mở trống rộng ra tới mức nó có thể giải quyết được mọi tình huống bất thiện vì thực ra chính vì các tình huống bất thiện đó mà lòng đại bi được hoan hỷ và sinh động.

Người phối hợp của Ngài là Pandaravasini, vị Phật Mẫu mặc áo choàng trắng – liên tưởng đến sự hình tượng hóa câu chuyện thần thoại Ấn Độ về loại quần áo được dệt bằng sợi làm bằng đá, chỉ được tẩy sạch bằng lửa. Phật Mẫu thể hiện bản chất của lửa là tiêu hủy mọi thứ và cũng là kết quả của quá trình tiêu hủy, sự tịnh hóa, lòng đại bi vẹn toàn.

Kế đến là Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara), Ngài quán thấy khắp thập phương, Ngài thể hiện tinh túy của đại bi, đó là trí đại bi vô thượng. Bất cứ khi nào cầu khẩn thì trí đại bi đó xuất hiện một cách tự nhiên, nó có phẩm chất là chính xác, tự động. Đó không phải là loại đại bi mù quáng, mê muội, mà là đại bi có trí huệ, luôn luôn đạt được sự hoàn tất triệt để. Ở đây còn có ngài Văn Thù Bồ tát (Manjusri) thể hiện khía cạnh cơ động của đại bi, mang tính chất trí huệ chứ không phải những rung cảm đột xuất. Ngài còn là người sáng tạo âm thanh – đó là phương tiện thông tri của đại bi – Ngài thể hiện âm thanh của tánh Không, đó là nguồn gốc của mọi lời nói.

Còn có nữ Bồ tát Gita, người hát những bài nhạc của Ngài Văn Thù, cùng với Ngài Aloka đang cầm ngọn đèn hay ngọn đuốc. Tiến trình trọn vẹn của trí đại bi có ánh sáng và nhịp điệu, nó có trí huệ sâu sắc và sự hiệu quả sắc nét, và nó có bản chất tịnh hóa của vị Phật Mẫu mang áo choàng trắng cũng như bản chất soi sáng đến vô tận của Phật A Di Đà.

Đó là toàn thể của bộ Hoa Sen, vượt lên trên tưởng uẩn và soi sáng bằng ánh sáng đỏ của trí huệ nhận biết vô phân biệt. Lòng đại bi rất sắc nét, chính xác cho nên rất cần có trí huệ nhận biết vô phân biệt, ở đây vô phân biệt không có nghĩa ở dưới dạng chấp nhận và chối bỏ, mà đơn giản là thấy sự vật như chính nó là.

Trong sách Tử thư, cõi này thường được đi kèm với cõi quỷ đói ; có sự tranh chấp ở đây, bởi vì đam mê thường liên kết với cõi người. Sự sắc nét và chính xác, sự sâu sắc và sự huy hoàng, tất cả những phẩm chất này của bộ hoa sen tràn ngập, áp đảo, và bằng cách này hay cách khác, tâm nhận biết sẽ muốn chơi trò chơi câm điếc, nó muốn lẩn tránh khỏi bức tranh trọn vẹn đó, đi vào ngã lệch đưa tới những đam mê thường lệ.

NGÀY THỨ NĂM

Vào ngày thứ năm, có bộ Nghiệp, tức là tính chất tinh khiết của không khí hay gió. Nó có màu xanh lá cây, màu của ganh tỵ. Từ cõi Các Hành Vi Tích Tựu (Realm of Accumulated Actions), Phật xuất hiện. Bộ Nghiệp được kết hợp với hành vi, sự thành tựu và tính hiệu quả. Nó có quyền lực mãnh liệt và không có gì chịu đựng nổi trong cung cách của nó cho nên nó được coi như có tính chất triệt phá. Phật Bất Không Thành Tựu mang ý nghĩa thành tựu mọi hành vi, mọi quyền lực.

Ngài cầm một kim cương sử chữ thập trong tay. Kim cương vajra là biểu tượng thành tựu mọi hành vi, kiên cường, bất hoại như chúng ta đã thấy trong bộ kim cương vajra. Kim cương sử chữ thập thể hiện lãnh vực của tất cả các hành vi được nhận biết trọn vẹn trong tất cả phương hướng – sự thành tựu toàn khắp ; nó thường được mô tả như là kim cương sử muôn màu.

Ngài ngự trên tòa ngồi của một con shang-shang, một loại thần điêu garuda (kim xí điểu), con chim này như là một nhạc công, cầm hai cái chũm chạc (một loại nhạc cụ) trên hai chân, vừa chơi nhạc cụ này và vừa chở Phật Bất Không Thành Tựu trên lưng. Một lần nữa, con thần điêu biểu tượng một hình ảnh mạnh mẽ, một sự thành tựu – nó là thần điêu siêu việt, nó bay khắp mọi nơi, ôm trọn vẹn hư không.

Người phối hợp là Samaya-Tara ; có nghĩa là vị Cứu Độ của Lời Thiêng Liêng (Saviour of Sacred Word) hay Samaya. Có nhiều cách giải thích khác nhau về samaya trong giáo lý kim cương thừa, ở trong trường hợp này đó là sự viên thành hiện thực của tình huống sống động ngay khoảnh khắc đó.

Còn có Kim Cương Thủ Bồ tát (Vajrapani), có nghĩa là người đang cầm kim cang vajra. Lại nữa, điều đó tượng trưng năng lực phi thường, Ngài là vị Bồ tát của năng lực. Và còn có Trừ Cái Chướng Bồ tát (Sarvanivaraviskambhim) Bồ tát tịnh hóa tất cả các chướng ngại. Nếu có chướng ngại nào xảy ra trong quá trình hoạt động của nghiệp, chướng ngại đó xuất phát từ sự mê lầm hay mất khả năng tiếp cận với tình huống sinh hoạt thực tế, cho nên vị Bồ tát này sẽ tẩy sạch những chướng ngại này. Nói cách khác, bộ nghiệp này chứa đựng cả hai ; sự tẩy sạch các chướng ngại và năng lực thành tựu.

Kế đến có các nữ Bồ tát là Gandha và Naivedya. Gandha là vị Bồ tát của hương thơm, Ngài mang theo mùi thơm tinh chất lấy từ tất cả các loại cỏ, nó thể hiện những cảm giác hay những nhận biết bằng giác quan – để có được hành vi thiện xảo hiệu quả bạn cần sự nhận biết bằng giác quan ở mức độ phát triển cao. Nữ Bồ tát Naivedya cung cấp thức ăn – đây là loại thức ăn bằng thiền định, nó nuôi dưỡng hành vi thiện xảo.

Bộ Nghiệp siêu vượt lên trên hành ấm (skandha of concept) và được nối kết với cõi Atula (cõi các thiên giới ganh tỵ) – sự mê lầm và sự kinh nghiệm trí huệ, cả hai đều có cùng một tính chất. Trong trường hợp này, cả hai đều có tính chất chiếm lấy làm sở hữu, nhưng trí huệ bao quát trọn vẹn cái nền tảng của mọi khả tính, thấy biết mọi phương thức khả thi để giải quyết các tình huống ở cả các dạng chủ thể và khách thể, năng lực, cơ cấu, tánh khí, về tốc độ, về phạm vi không gian, và vân vân, trong khi mà sự mê lầm có một phương thức giải quyết các tình huống một cách rất hạn hẹp, bởi vì tự bản thân nó không bao giờ đã mở rộng ra được một tí nào cả. Sự mê lầm là trí huệ không được phát triển, một thứ trí huệ còn sơ khai, trong khi trí huệ thì ở dạng đã được phát triển trọn vẹn.

NGÀY THỨ SÁU

Kế tiếp có sự hội tụ ở thời điểm đỉnh cao của bốn mươi hai thiện thần bình yên. Năm Như Lai, bốn vị hộ pháp gìn giữ các cổng, bốn thiên nữ và sáu cõi thế gian xuất hiện cùng một lúc. Chúng ta bị choáng váng trong tình huống linh ảnh Năm Như Lai ngập đầy hư không khắp mười phương, trong tận cùng ngõ ngách cảm xúc, không chỗ nào có được một kẽ hở, không có chỗ ẩn núp, cũng không có một sơ sót nào bởi vì có bốn loại herukas canh giữ bốn hướng.

Vị giữ cổng phía đông có tên là Bậc Chiến Thắng, ngài lo việc giữ yên mọi sự, nhưng ngài hiện ra với bộ mặt hung dữ khiến phát sinh bầu không khí nể sợ ở cổng đó, khiến cho bạn không nghĩ đến chuyện bỏ ra đi. Ngài thể hiện một phẩm chất bình yên mang tính cách vô địch, bất hoại.

Vị thứ hai ở cổng phía nam, có tên là kẻ thù của Thần Chết (Yama). Ngài được nối kết với các hoạt động nghiệp quả gia tăng sự thịnh vượng. Sự thịnh vượng ở dưới dạng không gian và thời gian thì rất hạn chế, có tính toán hơn thua, ở đây ngài siêu vượt lên trên các hạn chế đó, ngài là Vua – người đứng trên Diêm Vương.

Ở cổng phía tây là vị Hayagriva Đầu Ngựa (the Horse-headed Hayagriva) Ngài có chức năng tương đương với hệ thống báo động như tiếng hí của con ngựa có thể đánh thức bạn trong những tình huống bất ngờ. Nó liên quan đến sự phóng rọi ra lớn rộng bao quát, một kiểu quan tâm sáng suốt sao cho bạn không mắc kẹt vào sự đam mê, và bạn lúc nào cũng được đánh thức.

Ở cổng phía bắc là Amrtakundali có nghĩa là cái vòng của Amrta hay loại thuốc chống chết. Nếu bất ngờ bị thúc dục tự tử vì mất hết hy vọng thì thuốc chống chết này giải cứu bạn ; tự tử hoàn toàn không phải là lối giải quyết vấn đề. Bạn có được sự hiện diện bình yên vô địch, một hiện diện gia tăng không ngừng vượt khỏi ý niệm thời gian, không gian, một nguyên lý hấp dẫn phát ra sự báo động và một nguyên lý tự tử cho bạn thứ thuốc chống chết. Như vậy, từ gốc rễ, bạn hoàn toàn được khóa chặt ở trong, không cho phép bất kỳ sai lệch nào. Thêm nữa, còn có những nguyên lý nữ tính của các vị nguyên lý nữ ở dạng cái móc câu, câu bạn như câu cá một khi bạn cố bỏ chạy. Hoặc bạn cố thoát đi trong hình thức cái tâm kiêu ngạo lấp đầy mọi khoảng trống không các khả năng khác có thể xảy ra thì vị thiên nữ với sợi thòng lọng cột chặt bạn từ đầu đến chân để bạn không một cơ may để mở rộng tâm kiêu ngạo lớn ra. Một khả năng khác có thể xảy ra là với sự đam mê bạn bỏ chạy ; sự đam mê đó dựa cơ sở trên tốc độ. Một thiên nữ với xâu chuỗi cột bạn lại sao cho bạn không thể di chuyển đôi chân bỏ chạy. Và nếu bạn cố hét lớn làm cho ai đó kinh hãi và làm cho bạn lệch hướng thì vị thiên nữ với cái chuông phát ra tiếng chuông rất lớn lấn át tiếng hét đe dọa và tiếng gầm từ đáy cơn giận của bạn.

Rồi thì bạn bị đưa xuống đối mặt với sáu cõi sanh tử : Vị Phật của cõi trời, vị Phật cõi Atula, vị Phật cõi người, vị Phật cõi súc sanh, vị Phật cõi ngạ quỷ, và vị Phật cõi địa ngục. Tất cả các hình ảnh này hiện ra từ trong trung tâm của tim bạn được liên kết với xúc tình, đam mê, vui sướng.

NGÀY THỨ BẢY

Kế tiếp các vị Trì Minh Phật (Vidyadharas : người nắm giữ sự hiểu biết sâu sắc, năng lực khám phá và thông tin) bắt đầu chiếu sáng từ trung tâm cổ họng, đó là bản chất của nguyên lý giao tiếp. Các thần bình yên được gắn với khối óc. Lời nói là chiếc cầu giao tiếp thông tin giữa hai nơi, đó là các vị Trì Minh Phật. Trì Minh có nghĩa là người nắm giữ sự hiểu thấu đáo không phải có tính bình yên hay hung nộ, nhưng là trung gian, vô ký. Các ngài rất có ấn tượng, có quyền lực vượt trội và rất trang nghiêm, thể hiện sắc thân thiêng liêng của các vị guru kim cương thừa, sở hữu oai lực vượt lên trên các khía cạnh huyền bí diệu kỳ của vũ trụ.

Đồng thời, ánh sáng xanh lá cây của cõi súc sanh xuất hiện, tượng trưng cho vô minh cần sự giảng dạy của vị guru để soi tỏ nó.

CÁC THẦN XUNG NỘ

Giờ đây, những nguyên lý của Năm Như Lai được chuyển hóa thành ra các thần herukas cùng với các vị phối hợp. Tính chất cơ bản của Ngũ Bộ Phật vẫn tiếp tục, nhưng giờ đây được diễn đạt theo cách thức rất kịch tính ; đó là năng lực của kim cương vajra, hoa sen vân vân thay vì ở dạng nguyên tính cơ bản. Các vị herukas có ba đầu sáu tay. Ý nghĩa tượng trưng ở đằng sau hình dáng nhiều tay nhiều đầu này là oai lực của sự biến hóa được diễn đạt trong chuyện thần thoại về khả năng chinh phục của thần Rudra.

Rudra là một hình tượng, tượng trưng sự hoàn thành ngã tính một cách trọn vẹn. Ngày xưa có hai người bạn cùng học một thầy, vị thầy giảng rằng tinh túy của giáo pháp của ông là trí huệ bản nhiên (spontaneous wisdom), thậm chí ngay cả khi ta tự ý buông thả để can dự vào những hành vi quá đáng, thì các hành vi đó như đám mây trong bầu trời sẽ được tan mất bởi tính bản nhiên rất căn cơ đó (fundamental spontaneity). Hai người học trò đã hiểu giáo lý đó theo cách hoàn toàn khác nhau. Một người ra đi, bắt đầu hành trì theo cách bản nhiên đối với cá tính riêng của ông ta, thiện cũng như bất thiện, và đạt được đến chỗ có khả năng giải phóng các cá tính riêng đó một cách bản nhiên không hề có một tí sự cưỡng bức – không khuyến khích yểm trợ cũng không đàn áp chúng. Người kia bỏ ra đi lập nhà thổ tổ chức một đám du đãng hành động buông thả, cướp bóc các làng mạc, chém giết đàn ông, bắc cóc đàn bà.

Ít lâu sau hai người gặp lại nhau và đều quá bất ngờ về sự khác biệt của kiểu sống theo tính bản nhiên tự phát của người bạn mình, họ bèn quyết định tìm lại người thầy để hỏi. Hai người học trò đều trình bày kinh nghiệm của mình cho thầy nghe, người thầy nói rằng người đầu tiên đã làm đúng, người thứ hai đã sai. Nhưng người học trò thứ hai này không thể chịu đựng được khi thấy rằng mọi nỗ lực cố gắng của mình đã bị chỉ trích kết tội, nên ông rút gươm và giết chết vị thầy ngay tức khắc.

Khi người học trò ác độc đó đến lúc phải chết, ông ta tái sanh liên tục, năm trăm kiếp làm con bò cạp, năm trăm kiếp làm chó sói, và còn nhiều nữa, và cuối cùng ông ta tái sanh vào cõi trời làm Rudra.

Khi sanh ra, ông ta có ba đầu và sáu tay với những móng vuốt và răng màu nâu, đầy đủ. Mẹ ông ta chết ngay khi ông ta mới sanh, và các vị trời quá kinh hãi nên đưa thi thể người mẹ cùng với ông ta đến nhà mồ, và bỏ vào một cái mồ. Đứa bé (tức ông ta) được sống sót nhờ hút máu và ăn thịt sống của mẹ, nên ông ta trở nên trông rất kinh hãi, rất khỏe và rất mạnh. Ông ta đi quanh quẩn vùng nghĩa địa, tụ họp điều khiển các con ma, các thần ở trong vùng, ông ta tạo lập vương quốc riêng cho mình như đã làm trước đây, cứ thế bành trướng cho đến khi ông ta cai quản được toàn bộ ba cõi.

Đến lúc này, vị thầy và người bạn đồng môn đã đạt giác ngộ trước rồi, giờ đây họ nghĩ rằng họ phải điều phục ông ta. Do đó Kim Cương Thủ (Vajrapani), tự biểu lộ ra thành thần Hayagriva có gương mặt đỏ trông dữ tợn với cái đầu ngựa, hí vang ba tiếng để công bố sự có mặt của mình trong vương quốc Rudra. Rồi, ngài xâm nhập vào bên trong thân thể của Rudra theo ngõ hậu môn ; bấy giờ Rudra bị khuất phục, đồng ý dâng hiến thân thể mình làm một phương tiện, một công cụ. Tất cả những lễ vật tượng trưng vương quyền và trang phục nhà vua của Rudra như vương miệng bằng sọ người, tách uống nước bằng sọ người, các món trang sức bằng xương, áo bằng da cọp, khăn choàng bằng da người và da voi, áo giáp, đôi cánh, cái mũ hình trăng lưỡi liềm trên đầu, vân vân đều tức thời biến thành ra trang phục của thần heruka.

Trước hết, có vị Heruka Vĩ Đại, ngài không có liên kết với bất kỳ vị Phật nào trong Năm Bộ Như Lai, ngài là khoảng không giữa năm Bộ Phật. Vị Heruka Vĩ Đại sáng tạo ra năng lực căn bản cho các vị Heruka xung nộ, ngài cũng tạo năng lực cho cho các vị Heruka Phật, Heruka Kim Cương, Heruka Bảo Sanh, Heruka Hoa Sen, Heruka Nghiệp cùng với các vị phối hợp tương ứng. Các vị thể hiện phẩm chất tàn bạo, sung sức, vô địch của năng lực. Ngũ Bộ, về cơ bản, là một thể có tính cách bình yên, mở toang, thụ động, bởi vì hoàn toàn ổn định, không có gì có thể khuấy động được ; ở đây, sức mạnh vô biên của thể tánh bình yên đó đang thể hiện ở dạng xung nộ. Nó thường được mô tả như là sự giận dữ vì quá thương yêu chứ không phải căm ghét.

Rồi có những gauris – những thiên nữ trang phục màu trắng – một kiểu năng lực dữ dội khác nữa. Năm vị herukas với năng lực thế nào thì hiện ra như thế, còn ở đây các gauris này là loại năng lực kích hoạt. Vị gauri áo trắng nhảy múa quanh một tử thi, bà muốn dập tắt tiến trình các niệm, cho nên bà ta cầm một tích trượng làm bằng thi thể một đứa bé. Thông thường, một thi thể tượng trưng trạng thái vô ký căn bản của chúng sanh ; một thi thể đã không còn sống là một thể không còn những niệm được khởi lên nữa, chẳng có niệm thiện, niệm ác – đó là trạng thái bất nhị của tâm. Đến lượt thiên nữ gauri áo vàng cầm một cái cung và một cây tên bắn, bà đã đạt được sự phối hợp giữa kiến thức và phương tiện thiện xảo, công việc của bà là hợp nhất hai thứ đó lại. Rồi có gauri áo đỏ, cầm một ngọn cờ chiến thắng làm bằng da của con quái vật ở dưới biển. Quái vật ở biển tượng trưng cho sự thật chung của cõi sanh tử không thể thoát ra được ; bà cầm nó ở dạng một ngọn cờ điều, ngụ ý rằng không chối bỏ mà chấp nhận cõi sanh tử như nó như vậy. Đến lượt ở phương bắc là Vetali, màu đen, cầm một kim cương sử và một cái tách bằng sọ người, bà tượng trưng phẩm chất bất biến của pháp tánh kim cương sử là bất hoại và cái tách bằng sọ người là một biểu tượng khác nữa của phương tiện thiện xảo. Chúng ta không cần đi sâu vào chi tiết những điều này, chỉ nêu ra ý cơ bản về các gauris này cùng với những thông tri kết hợp với mạn đà la xung nộ, mỗi hình ảnh đặc biệt đều có một chức năng trong việc hoàn thành năng lực đặc biệt đó.

Các thần xung nộ đại diện cho sự hy vọng, và các thần bình yên đại diện cho sự kinh sợ. Sự kinh sợ này trong ý nghĩa kinh tởm và khó chịu bởi vì là gì thì trong một chừng mực nào đó cái ngã cũng không thể điều động được các thần ; các vị đó hoàn toàn không khuất phục, các vị không bao giờ kháng cự. Tính chất hy vọng của năng lực xung nộ là hy vọng trong ý nghĩa của một tình huống sáng tạo liên tục không ngừng, được thấy như nó thực sự như vậy, như một năng lực vô ký cơ bản được liên tục không ngừng, chẳng phải thiện, cũng chẳng phải ác. Tình huống đó dường như tràn ngập tất cả và vượt ra ngoài sự điều khiển của bạn. Xu hướng là hoảng sợ, là nghĩ rằng mình có thể điều khiển được ; nó giống như việc bất thình lình nhận thấy mình đang chạy xe rất nhanh nên đạp thắng lại và vì thắng gấp nên gây ra tai nạn. Chức năng của các vị gauris là xen vào giữa thân và tâm. Trong trường hợp này tâm là trí sáng suốt và thân là tính cách của một hành động bất ngờ không kịp suy nghĩ. Các vị gauris chận ngang giữa trí và hành động, họ cắt đứt sự liên tục tự che chở do cái ngã làm ra ; đó là tính chất dữ dội của các vị gauris. Họ là thay đổi hoàn toàn năng lực hủy diệt thành ra năng lực sáng tạo. Cho nên nội lực của tính cách bất ngờ không kịp suy nghĩ của một hành động hay một sự hoảng sợ được chuyển đổi hoàn toàn, giống y như thân của quỷ vương Rudra thay đổi hoàn toàn thành ra heruka.

NGƯỜI ĐANG SẮP CHẾT

Theo văn hóa Tây Tạng, người ta dường như không coi cái chết như một cái gì đáng sợ, đặc biệt khó khăn ; nhưng ở đây – ở các nước phương Tây này – người ta thấy quá khó khăn để nói đến cái chết. Không ai nói cho họ biết về sự thật sau cùng này. Chính sự chối bỏ kinh khủng này, sự từ chối tình thương rất cơ bản này đã khiến cho không có ai muốn giúp đỡ tâm thức của người sắp chết.

Trừ phi người sắp chết đang ở trong trạng thái mê man bất tỉnh hay không thể nghe nói được, còn không thì trong những trường hợp thông thường người đó cần được bảo cho biết là ông ta sắp chết. Thật ra, có thể khó nói như vậy, nhưng nếu bạn là người bạn, là chồng hay vợ thì lúc này là cơ hội lớn nhất để bày tỏ sự tin cậy thực sự. Sẽ có một tình huống hài lòng đến cho ông ta vì rằng cuối cùng còn có người để ý chăm lo cho, rằng người đó không đang nói điều đạo đức giả, nói láo để vừa lòng, như đã từng lừa dối như vậy trong lúc ông ta còn sống. Niềm tin cậy tận đáy lòng đó sẽ là rất tuyệt vời, chính nó sẽ gút lại thành ra sự chân thật tối hậu. Chúng ta nên cố gắng phát sanh nguyên lý này.

Điều quan trọng là giữ mối liên hệ với người sắp chết, bảo với ông ta rằng vào thời khắc đó, cái chết không phải là sự không thể có – sự tưởng tượng, nhưng là sự việc thực tế đang xảy ra. Bạn hãy nói : “Cái chết đang xảy ra thực, chúng tôi là bạn của bạn, chúng tôi đang canh chừng cái chết của bạn. Chúng tôi biết bạn đang sắp chết và bạn cũng biết bạn đang sắp chết, chúng ta thực sự cùng nhau hiểu được điều này.” Đó là sự thể hiện tình bạn và sự cảm thông tốt nhất, dịu dàng nhất, nó biểu lộ sự cảm kích vô cùng sâu sắc đối với người sắp chết. Bạn có thể nên quan sát đến thể trạng của ông ta, để ý tới sự suy sụp dù rất vi tế trong thính giác, khả năng giao tiếp nghe nói, trong các giác quan của cơ thể, sự diễn đạt biểu lộ trên gương mặt, vân vân. Nhưng có những người có sức mạnh tâm linh rất ư mãnh liệt, họ có thể luôn nở nụ cười trong giây phút cuối cùng, cố chống lại sự suy sụp của các giác quan, chống lại “cái lão” cho nên người ta nên nhận ra tình huống này nữa. Việc đọc suông văn bản giáo lý “Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” này thì không đủ, người sắp chết cần biết rằng bạn đang cử hành một nghi lễ nào đó cần cho ông ta. Bạn nên có sự hiểu biết về toàn bộ vấn đề, không phải chỉ đọc suông, mà làm sao như thể đang nói chuyện với nhau : “Bạn sắp chết, bạn sắp xa rời bạn bè, gia đình bạn, những gì ưa thích, môi trường chung quanh sẽ không còn đó nữa, bạn sắp xa rời chúng tôi. Nhưng đồng thời, một điều gì đó vẫn tiếp tục, đó là mối quan hệ tích cực thiện hạnh giữa bạn với bạn bè và với đạo pháp, nên hãy giữ gìn sự liên tục tự căn bản đó, nó hoàn toàn vô ngã. Khi bạn chết, sẽ trải qua đủ tất cả các thứ kinh nghiệm bị tổn thương rất khó chịu : phải bỏ thân xác lại, bạn cũng sẽ có những kỷ niệm cũ trở lại với bạn như những cảnh trong giấc mộng. Dù bất cứ những ảnh hiện những thứ cảnh trong mộng hiện ra ra sao đi nữa, thì bạn hãy thuần chỉ liên hệ với điều đang xảy ra hơn là bỏ chạy đi. Hãy ở lại đó, thuần chỉ liên hệ với nó.”

Trong khi bạn đang nói chuyện với người sắp chết những lời như thế, trí sáng suốt và sự nhận thức (in telligence and consciousness) của ông ta đang suy sụp, nhưng đồng thời ông ta cũng phát triển một thứ nhận thức cao độ hơn đối với tình cảm những người xung quanh, nên nếu bạn có được nhiệt tình tự đáy lòng và sự tin tưởng sâu sắc rằng điều bạn đang nói cho ông ta nghe là sự thật chứ không phải những điều người ta bảo bạn nói, thì điều đó thật sự rất quan trọng.

Cũng có thể nên giải thích một cách đơn giản về tiến trình của sự suy sụp tan rã từ đất sang nước, nước sang nhiệt và vân vân, tiến trình suy sụp từng bước này của thân xác cuối cùng kết thúc trong tạng linh quang (luminosity principle). Để đem người đó vào trạng thái linh quang, bạn cần một cái nền – một điểm tựa – cơ bản để dựa vào đó, và cái nền đất cơ bản này chính là sự kiên cố của người đó. “Các bạn bè biết rằng bạn sắp sửa chết, nhưng không ai sợ hay kỵ, họ đều thực sự có mặt ở đây, họ đang nói với bạn rằng bạn sắp chết, không có gì đáng ngờ sau lưng bạn.” Việc có mặt đầy đủ mọi người xung quanh người sắp chết là điều rất quan trọng. Dựa vào cái hiện tiền mà thôi sẽ có tác động mãnh liệt cùng cực bởi vì ở thời điểm đó có sự không tin cậy đối với thân cũng như tâm. Đầu óc và thân xác đang suy sụp, nên bạn chỉ dựa vào tình huống đó (cái hiện tiền) mà cung cấp nền tảng vững chắc.

Bao lâu mà các ảnh hiện của các thần bình yên và các thần xung nộ còn xuất hiện, người chết phải tự mình thiết lập mối quan hệ với các ảnh hiện đó. Sách Tử thư nói rằng bạn nên cố gọi linh hồn người chết xuất hiện và bảo cho người ấy biết về các ảnh hiện nếu vẫn còn có sự liên tục (ý thức) thì bạn có thể làm điều đó nhưng với người chết là một người bình thường thì việc đó sẽ là việc đoán mò, không có chứng cứ thực sự là bạn đã không mất sự tiếp xúc được với người đó. Toàn bộ vấn đề ở đây là, khi bạn đọc những hướng dẫn (của Tử thư) cho người đang chết, thực sự bạn đang nói chuyện với chính bạn. Trạng thái ổn định của bạn sẽ là một phần giúp cho người chết, cho nên nếu bạn ổn định thì tự động, người chết đang trong trạng thái bardo sẽ được lôi cuốn vào đó. Nói cách khác, hãy thể hiện một tình huống rất sáng suốt và kiên định đối với người sắp chết. Hãy xác lập sự nối kết với ông ta, đồng thời hãy mở rộng tấm lòng đối với nhau và phát triển sự gặp gỡ của hai tâm.

Đại Giải Thoát
Thông Qua Sự Nghe Trong Bardo
CHÁNH VĂN

Kính lễ Chư Thầy tôn kính, là Ba Thân :
Đức A Di Đà Phật, Vô Lượng Quang, là Pháp Thân,
Chư Thần Bình Yên và Xung Nộ trong Bộ Hoa Sen, là Báo Thân,
Đức Liên Hoa Sanh, Người Che Chở cho Chúng sanh, là Hóa Thân. ÷

“Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” này – phương tiện giải thoát trong giai đoạn Bardo cho các hành giả trung căn – gồm có ba phần : phần dẫn nhập, phần chủ đề chính, và phần kết luận. ÷

Trước hết là phần dẫn nhập, phương tiện giải thoát cho loài người. Trước tiên, người [01]cần nghiên cứu những lời giáo huấn, chúng chắc chắn sẽ giải thoát cho ai có thượng căn ; nhưng nếu những giáo huấn đó không tác dụng, người phải thực hiện phép chuyển di tâm thức (the ejection of consciousness) nó sẽ giúp giải thoát một cách tự nhiên lúc vừa nghĩ đến nó khi ở trong giai đoạn bardo ngay lúc đối diện cái chết. Cách này sẽ chắc chắn giải thoát cho các hành giả (yogins) trung căn ; nhưng nếu cách này không tác dụng, người phải cố gắng tận lực trong phép “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” (Great Liberation through Hearing) khi ở trong giai đoạn bardo Pháp Tánh (bardo of dharmata, Cheunyi bardo). ÷

Do đó, trước hết hành giả cần nên theo dõi diễn biến các dấu hiệu của cái chết chiếu theo chỉ dẫn của “Sự Giải Thoát Tự Nhiên của các Dấu Hiệu của cái Chết”, và khi các dấu hiệu đó chắc chắn đã hoàn tất, hành giả cần thực hiện phép chuyển di tâm thức, nó giúp giải thoát một cách tự nhiên ngay khi nó được nghĩ tới. Nếu sự chuyển di có hiệu quả thì không cần đọc bộ giáo huấn “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe”, nhưng nếu không được, thì bộ sách Giải Thoát này nên được đọc một cách rõ ràng, chính xác, sát bên cạnh tử thi. ÷

Nếu tử thi không có tại chỗ, người phải ngồi trên giường hay ghế mà người chết từng nằm hay ngồi, và trong khi công bố quyền năng của chân lý – người nên cầu vong linh người chết và đọc trong khi đó tưởng tượng người chết ngồi đối diện và đang nghe đọc. Vào lúc này không nên có những tiếng than khóc nên các họ hàng phải làm thinh, nín khóc. Nếu tử thi có tại chỗ, trong suốt thời gian từ lúc tắt thở đến khi mạch (ở động mạch) ngưng đập, vị thầy (guru) hay một đạo huynh, người mà người chết rất thương yêu tin tưởng, nên đọc bộ giáo huấn “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” này, đọc gần sát lỗ tai người chết. ÷

Giáo lý “Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe”. Nên trần thiết một nghi lễ cúng dường Tam Bảo[02] một cách chu đáo nếu có lễ vật, nhưng nếu không có lễ vật, người nên dâng cúng những lễ vật có sẵn, rồi hãy quán tưởng những lễ vật còn lại vô lượng vô biên. Người nên đọc từ ba đến bảy lần bài kệ : “Cầu Nguyện chư Phật chư Bồ Tát Cứu Thoát” (Inspiration – Prayer Calling on the Buddhas and Bodisattvas for Rescue) sau đó đọc lớn tiếng bài “Cầu Nguyện để Giải Thoát Khỏi Lối Đi Nguy Hiểm của Bardo” (Inspiration – Prayer for Deliverance from the Dangerous Pathway Verses of the Bardo) và bài “Những Câu Kệ Chánh về Sáu Bardo” (Main Verses of the Bardo). Sau đó, đọc bộ giáo huấn “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” từ ba đến bảy lần. ÷

Bộ giáo huấn có ba phần : phần chỉ cho thấy linh quang (luminosity) trong Bardo vào lúc đối diện cái chết, lời nhắc nhớ lớn về sự chỉ bày trong giai đoạn Bardo Pháp tánh, và những hướng dẫn để đóng lại lối vào mẫu thai trong bardo trở thành. ÷

Trước hết là phần chỉ cho thấy linh quang trong Bardo vào lúc đối diện cái chết. Bằng cách nghe đọc bộ sách này, tất cả các hạng người bình thường, những người đã học được giáo pháp nhưng chưa nhận ra dù họ sáng suốt, hay những người nhận ra được, nhưng tu tập ít, tất cả họ sẽ nhận ra được linh quang căn bản và bỏ qua kinh nghiệm bardo để trực tiếp đạt đến Pháp thân vô sanh. ÷

Phương pháp khai thị (instruction) : tốt nhất là vị bổn sư chính, người mà người chết đã học pháp, nếu không là một sư huynh mà người chết đã cùng phát nguyện giới thiêng liêng (samaya vow) hay một huynh đệ cùng dòng tu. Nếu không có những người này, thì nên chọn một người có thể đọc lớn, rõ, chính xác và đọc bộ này nhiều lần. Được như vậy, người chết sẽ được nhắc để nhớ lại những gì mà vị thầy đã chỉ cho ông ta thấy, và chắc chắn không nghi ngờ nào cả, ông ta sẽ lập tức nhận ra linh quang căn bản và ông ta sẽ được giải thoát. ÷

Thời gian khai thị : khi sự thở đã ngưng, khí (prana)[03]* được rút vào kinh trí huệ trung ương (wisdom-dhuti)[04]** và linh quang thoát khỏi những phức tạp phiền nhiễu sẽ chiếu sáng rõ trong thức (consciousness). Nếu khí bị đi sai đường và thoát vào trong hai kinh nhánh (nadis) bên trái và bên phải thì trạng thái bardo xuất hiện tức thì, thế nên bộ giáo huấn cần được đọc trước khi khí thoát vào kinh nhánh bên phải và bên trái. Từ sau khi ngưng thở, thời gian mà nhịp đập bên trong vẫn còn hoạt động bằng thời gian một bữa ăn. ÷

Phương pháp khai thị : khi hơi thở sắp sửa ngưng, tốt nhất là thực hiện phép chuyển di tâm thức (pho-ba) cho có hiệu quả, nhưng nếu việc đó không kết quả, người phải nên đọc những lời này :

“Này thiện nam (tín nữ) (tên), bây giờ đã tới lúc con (hay ngươi, v.v… tùy cách xưng hô) phải tìm con đường. Ngay khi hơi thở của con ngừng lại, trước mặt con xuất hiện linh quang căn bản của bardo đầu tiên, cái mà vị thầy đã từng chỉ cho con. Đó là pháp tánh (dharmata) mở suốt và trống rỗng như hư không, tánh rỗng rang quang minh, tâm trần trụi thanh tịnh không có tâm điểm cũng không có ngoại vi. Con hãy nhận ra và an trú trong trạng thái đó và đồng thời Thầy sẽ chỉ cho con thấy.” ÷

Chắc chắn điều này sẽ được in sâu vào tâm nếu được nói vào lỗ tai câu trên cho tới khi ông ta ngưng thở. Rồi khi biết đã ngưng thở, người hãy đặt ông ta nằm nghiêng bên phải như thế nằm sư tử và ấn mạnh vào hai động mạch đang đập – nó đưa tới giấc ngủ – cho đến khi hai động mạch đó ngưng đập. Rồi thì, khí (prana) đã vào trong kinh trung ương (dhuti) sẽ không thể quay trở lại, và chắc chắn sẽ đi lên thông qua lỗ thóp trên đỉnh đầu (brahmarandhra).[05]*

Giờ đây cần đọc lên lời chỉ dẫn. Vào lúc này, bardo đầu tiên – người ta gọi là linh quang pháp tánh (luminosity of dharmata), tức là tâm vốn nguyên vẹn không méo mó (undis-torted mind) của pháp thân, sẽ hiển lộ trong tâm của mọi chúng sanh. Người thường thì gọi trạng thái này là không có ý thức bởi vì khí chìm trong kinh trung ương (avadhuti hay dhuti) trong suốt quãng thời gian từ lúc ngưng thở đến khi nhịp động mạch ngưng đập. Quãng thời gian này dài ngắn không nhất định, tùy thuộc vào điều kiện tâm linh và giai đoạn tu hành Du già (yogic training). Nó sẽ kéo dài đối với những ai đã tu tập nhiều, đã ổn định trong phép tu thiền an định (samatha) và nhạy bén. Khi chỉ bày cho người đã tu được như vậy, người nên lập đi lập lại lời chỉ dẫn cho đến khi chất lỏng màu lợt (pus) chảy rỉ ra ở chỗ các khiếu của thân người chết. Đối với những người độc ác, lạnh lùng thì khoảng thời gian đó không lâu hơn một cái khảy móng tay, nhưng trong một số người thì quãng thời gian đó kéo dài bằng một bữa ăn. Như đa số kinh (sutra) và tantra dạy rằng thời gian không có ý thức đó kéo dài bốn ngày rưỡi, nên nói chung, người phải nên ráng hết sức chỉ bày cho thấy được linh quang trong quãng thời gian đó. ÷

Phương pháp khai thị : nếu người chết có khả năng, người ấy sẽ tự thực hiện theo như những lời chỉ dạy đã học được trước kia. Nhưng nếu ông ta không thể tự làm được, thì vị thầy hay đệ tử của thầy hay một sư huynh và rất thân, sẽ ngồi sát bên cạnh ông ta và đọc lớn rõ ràng diễn biến thứ lớp các dấu hiệu cái chết như sau : “Giờ đang hiện diện dấu hiệu đất chuyển thành ra nước, nước chuyển thành nhiệt, nhiệt chuyển thành không khí, không khí chuyển thành thức…” Khi tiến trình này sắp hoàn tất, ông ta nên được thúc đẩy để nuôi dưỡng một thái độ như sau : “Này thiện nam tín nữ” nếu người chết là một vị thầy thì : “Thưa đại sư (guru)” rồi đọc tiếp : “chớ để các niệm của mình đi lang thang.” Hãy đọc nhỏ điều này vào lỗ tai ông ta. Nếu người chết là huynh đệ đồng môn hay một người khác, người phải đọc tên ông ta cùng những lời sau : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), sự việc gọi là chết giờ đây đã xảy đến, cho nên con nên nuôi giữ thái độ như thế này : ‘Tôi đã tới thời điểm cái chết, cho nên giờ đây thông qua cái chết này tôi sẽ chỉ nuôi dưỡng thái độ có được trạng thái tâm giác ngộ (Bồ đề tâm), có được đại từ đại bi, đạt tới sự giác ngộ toàn triệt vì lợi ích của chúng sanh hữu tình vô biên như hư không. Với thái độ này, vào thời điểm đặc biệt này vì lợi ích của chúng sanh hữu tình, tôi sẽ nhận ra linh quang của cái chết (luminosity of death) chính là Pháp thân (dharmakaya) và khi đạt tới sự chứng ngộ tối thượng của Đại Ấn[06]* trong trạng thái đó, tôi sẽ hành động vì sự tốt lành của tất cả chúng sanh. Nếu tôi không đạt được Đại Ấn đó, tôi sẽ nhận ra trạng thái bardo như chính nó là và khi đạt tới Đại Ấn không thể phân chia trong bardo, tôi sẽ hành động vì điều tốt lành của tất cả chúng sanh vô biên như hư không, bằng đủ các cách thức nào có thể có ảnh hưởng đến họ.’ Nhất tâm với thái độ này con nên nhớ và thực hành bất cứ giáo lý thiền định nào mà con đã được giảng trong quá khứ.” ÷

Những lời nói trên phải được đọc rõ ràng từng chữ với đôi môi kề sát lỗ tai ông ta, sao cho để có thể nhắc ông ta nhớ lại sự thực hành mà không để ông ta lạc mất sự chú tâm dù chỉ một giây. Rồi khi hơi thở hoàn toàn ngưng, người phải nên ấn mạnh động mạch dẫn tới giấc ngủ, và nhắc cho nhớ lại những lời này như sau (nếu người chết là vị thầy hay huynh đệ cao hơn) : ÷

“Thưa Đại Sư (hay sư huynh) giờ đây linh quang cơ bản đang chiếu sáng trước Thầy, Thầy hãy nhận ra nó và an trú trong sự thực hành.” ÷

Nếu người chết là những người khác, người nên khai thị như sau : ÷

“Này thiện nam (tín nữ) (tên), hãy nghe đây. Bây giờ, linh quang thanh tịnh của pháp tánh đang chiếu sáng trước con, con hãy nhận ra nó. Này thiện nam (tín nữ), ngay thời điểm này trạng thái tâm của con vốn là tánh Không thanh tịnh, không có bản chất nào cả, không vật chất cũng không tính chất chẳng hạn như màu sắc, mà thuần chỉ tánh Không thanh tịnh, đây là pháp tánh, tức Phật Mẫu Samantabhadri. Nhưng trạng thái tâm này không phải là ‘không trơ’ ; nó vô chướng ngại, sáng ngời, thanh tịnh và sinh động ; tâm này là Phật nguyên thủy Samantabhadra.[07]* Bản chất của tâm con là tánh Không, không có bất kỳ chất liệu nào, đồng thời sinh động và quang minh, cả hai điều đó không thể tách rời nhau ; đây là Pháp thân Phật. Trong những tâm của con thì tâm này là tánh Không và linh quang hợp nhất không thể tách rời trong hình thức một khối ánh sáng vĩ đại, không sanh không diệt, bởi thế đó là Phật của Ánh sáng Bất tử (Buddha of Immortal Light). Tất cả sự cần thiết là nhận ra điều này. Khi con thấu rõ rằng bản tánh thanh tịnh này của tâm con chính là Phật thì nhìn vào trong tự tâm có nghĩa là đang an trú trong tâm Phật (buddha-mind).” ÷

Nên lập đi lập lại đoạn khai thị này ba đến bảy lần, đọc rõ ràng chính xác từng lời. Thứ nhất nó sẽ nhắc cho ông ta nhớ lại những gì mà trước đây vị Thầy đã chỉ bày cho ông ta ; thứ hai, ông ta sẽ nhận biết tâm trần trụi của riêng mình chính là linh quang ; thứ ba, khi đã nhận biết như vậy, ông ta sẽ trở nên hợp nhất một cách không thể tách rời với Pháp thân và chắc chắn ông ta đạt giải thoát. ÷

Nếu ông ta nhận ra linh quang đầu tiên, ông ta sẽ được giải thoát. Nhưng nếu sợ rằng ông ta đã không nhận ra linh quang đầu tiên đó, thì cái gọi là linh quang thứ hai sẽ chiếu sáng, và nó xuất hiện sau hơi thở đã ngưng một thời gian hơn một bữa ăn một chút. ÷

Tùy theo nghiệp thiện hay nghiệp ác, khí (prana) thoát đi vào trong kinh năng lực (nadi) bên trái hay bên phải và rồi đi ra ngoài thông qua các khiếu của thân, và thức bỗng trở nên minh bạch. Nói rằng thời gian linh quang thứ hai chiếu sáng kéo dài như một bữa ăn là tùy thuộc vào việc ông ta có bén nhạy, nhẹ vía hay nặng vía (không bén nhạy), và cũng tùy thuộc ông ta đã tu tập hay không. Rồi sau đó, thức của ông ta xuất ra, ông ta phân vân không biết mình bị chết hay không, ông ta sẽ thấy họ hàng đã tụ họp trước mặt mình và nghe tiếng khóc của họ. ÷

Suốt thời gian này, trong khi chưa xuất hiện những phóng tưởng mê lầm và dữ dội của nghiệp, trong khi chưa xảy ra những nỗi kinh hãi do Thần Chết đem tới, thì rất cần sự hướng dẫn khai thị lúc này đây. Ngay đây có sự đặc biệt khác nhau giữa sự thực hành hoàn tất và thực hành quán tưởng (complete practice and visualisation pratice).[08]* Nếu người chết đã tu tập pháp thực hành hoàn tất, người phải nên gọi tên ông ta ba lần và đọc đi đọc lại những lời khai thị chỉ bày linh quang như trên. Nếu người chết đang thực hành quán tưởng, người phải đọc lớn bài nghi thức thực hành và sự mô tả về Yidam[09]** của ông ta và nhắc ông ta nhớ lại bằng những lời như sau : “Này thiện nam (tín nữ), con hãy thiền định về yidam của con, và đừng bị phân tâm. Hãy tập trung cao độ vào yidam của con. Hãy quán tưởng yidam giống như một hình tướng mà không có thể chất, giống như con thấy mặt trăng trên mặt nước ; đừng quán tưởng Yidam dưới một hình tướng cụ thể cứng chắc.” Nếu người chết là người bình thường, người nên chỉ cho ông ta thấy bằng cách nói như sau : “Con hãy thiền định về đức Đại Bi Vương Quán Thế Âm Bồ tát.” ÷

Không có gì nghi ngờ rằng, những ai đã không nhận ra bardo, thì sẽ nắm được nó khi nghe những chỉ dẫn này. Nhưng nếu họ đã không thuần thục trong thiền định, dù cho họ được thầy chỉ bày cho khi còn sống, thì họ sẽ không có khả năng tự mình nhận rõ trạng thái bardo, do đó vị thầy hay sư huynh phải khai thị cho rõ ra. Và rất cần khai thị hướng dẫn cho những ai đã không thể nhớ được trong giai đoạn bardo ở thời điểm đối diện cái chết bởi vì bệnh tình nghiêm trọng làm cho họ mê lầm, cho dù trước đó khi còn khỏe mạnh họ đã thuần thục trong thiền định. Lại còn cực kỳ cần thiết khai thị cho những người, mặc dù trước đó đã rất thuần thục trong thiền định theo con đường này, nhưng họ lại phá bỏ giới luật, hay sự hành trì samaya đã thoái hóa nên giờ đây sau khi chết họ có thể đọa xuống những cõi giới thấp. ÷

Điều tốt nhất là ông ta thấu hiểu được suốt trong bardo thứ nhất, nhưng nếu ông ta không được như vậy, thì giờ đây bằng sự nhắc nhở khi đọc lời khai thị trong bardo thứ hai, sự “quán chiếu thấu suốt” (insight) của ông ta sẽ được thức tỉnh và ông ta sẽ được giải thoát. Suốt trong bardo thứ hai, thức của ông ta – mà trước đó đã không biết rằng ông ta bị chết hay không – giờ đây bất thình lình trở nên minh bạch ; thức này được gọi là thân huyễn thanh tịnh. Ngay lúc này, nếu ông ta hiểu được lời dạy này thì pháp tánh mẹ và pháp tánh con gặp nhau và ông ta sẽ không còn bị nghiệp khống chế. Đích thị y như ánh sáng mặt trời xua tan bóng tối, ở đây nghiệp lực sẽ bị linh quang của con đường (bardo) xua tan đi, và sự giải thoát sẽ được đạt tới. Điều này được gọi là bardo thứ hai, sáng ngời trước mặt thân tinh thần và thức sẽ có khả năng nghe được trở lại y như trước đây. Lúc này đây nếu ông ta hiểu được lời khai thị, thì mục đích của lời khai thị đã được hoàn tất, và vì các phóng tưởng mê lầm của nghiệp chưa xuất hiện, cho nên ông ta có khả năng tự mình định hướng tới bất kỳ nơi nào. ÷

Với cách này người chết sẽ được giải thoát bằng cách nhận ra linh quang xuất hiện suốt trong bardo thứ hai, cho dù đã không nhận ra linh quang cơ bản. Nhưng nếu ông ta vẫn không được giải thoát bởi bardo thứ hai, bây giờ cái gọi là bardo thứ ba, tức bardo pháp tánh (bardo of dharmata) hiện ra. Các phóng tưởng mê lầm của nghiệp sẽ xuất hiện trong bardo thứ ba cho nên điều quan trọng nhất là vào lúc này phải đọc lời chỉ bày vĩ đại của bardo pháp tánh bởi vì nó rất có ích lợi và rất mãnh liệt. ÷

Lúc này thân nhân đang than khóc, không có phần của người chết trong bữa ăn của gia đình, quần áo của ông ta bị mang đi, giường bị tháo rời ra, vân vân. Ông ta có thể trông thấy họ nhưng họ không thấy ông ta, ông ta có thể nghe họ gọi tên ông ta nhưng họ không thể nghe ông ta gọi họ, nên ông ta bỏ đi trong tuyệt vọng. Có ba hiện tượng sẽ xuất hiện lúc này : những âm thanh, ánh sáng màu, và các chùm tia sáng ; và với nỗi sợ, nỗi kinh hoàng, sự luống cuống, ông ta sẽ càng lúc càng yếu và kiệt quệ cho nên vào lúc này cần đọc lời chỉ bày vĩ đại về bardo pháp tánh. Người hãy gọi tên người chết và đọc rành mạch những lời sau đây : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận, không được phân tán. Có sáu trạng thái bardo : bardo của lúc sanh ra đời, bardo của lúc nằm mộng, bardo của thiền an định[10]* (samadhi-meditation), bardo của lúc đối diện cái chết, bardo pháp tánh và bardo thác sanh (bardo of becoming). Này thiện nam (tín nữ), con sẽ kinh nghiệm ba trạng thái bardo : bardo của lúc đối diện cái chết, bardo pháp tánh và bardo thác sanh. Trong ba bardo này, linh quang pháp tánh trong bardo vào lúc đối diện cái chết đã chiếu sáng cho tới ngày hôm qua, nhưng con đã không nhận ra nó, nên con đã phải lang thang tới nơi đây. Giờ đây, con sẽ kinh nghiệm bardo pháp tánh và bardo thác sanh, nên con hãy nhận ra cái ta sắp chỉ cho con thấy và không được phân tán. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), giờ đây, cái gọi là chết đã đến. Không phải chỉ có một mình con rời bỏ thế giới này, điều đó xảy ra cho tất cả mọi người, cho nên con đừng cảm thấy khát khao luyến tiếc cuộc đời này. Mặc dù con có khát khao luyến tiếc thì con cũng không thể ở lại được, con chỉ có thể lang thang trong cõi sanh tử. Đừng ao ước, đừng luyến tiếc. Con hãy nhớ đến Tam Bảo. Này thiện nam (tín nữ), dù cho các phóng tưởng kinh hãi nào xuất hiện trong bardo pháp tánh này, thì đừng quên những lời này, hãy liên tục nhớ đến ý nghĩa của những lời này, điểm cốt lõi là nhận ra, cùng với những lời này : ÷

Giờ đây khi bardo pháp tánh hiện lên cho tôi,
tôi sẽ buông bỏ mọi niệm sợ hãi, kinh hoàng,
tôi sẽ nhận biết rằng bất cứ cái gì xuất hiện đều chỉ là phóng tưởng của tôi
và biết nó chính là một ảnh hiện của bardo ;
giờ đây tôi đã tới thời điểm quyết định
tôi sẽ không sợ hãi các thần bình yên và xung nộ, đó là những phóng tưởng của riêng tôi mà thôi. ÷

“Hãy cứ liên tục nói những lời này rõ ràng rành mạch và nhớ tới ý nghĩa của chúng. Đừng quên chúng, bởi vì điểm quyết định là, với sự xác tín, hãy nhận ra rằng bất cứ cái gì xuất hiện dù kinh hãi đến đâu cũng đều là các phóng tưởng riêng của con. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), khi thân và tâm của con tách rời nhau, pháp tánh sẽ xuất hiện, thanh tịnh, rõ ràng tuy nhiên rất khó nhận rõ, sáng rực rỡ chói lọi với sức sáng kinh khủng, như ảnh quáng nắng[11]* trên cánh đồng mùa xuân. Đừng sợ hãi nó, đừng hoảng hốt. Đây là sự tỏa sáng rực rỡ tự nhiên của pháp tánh riêng của con, bởi thế, hãy nhận ra nó. ÷

“Một tiếng sấm gầm rất lớn sẽ đến từ trong ánh sáng, đó là âm thanh tự nhiên của pháp tánh, giống như ngàn tiếng sấm đổ ầm cùng một lúc. Đây là âm thanh tự nhiên của pháp tánh của riêng con, nên đừng sợ, đừng hoảng hốt. Con có cái gọi là thân tinh thần gồm những xu hướng không có ý thức, con không có thân vật lý gồm thịt và máu, cho nên dù bất cứ âm thanh nào, màu sắc, tia sáng nào xuất hiện cũng không thể làm hại con được và con không thể chết. Đơn giản là con chỉ việc nhận ra rằng chúng là những phóng tưởng của con. Con hãy biết đây là trạng thái bardo. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), với cách này nếu con không nhận ra chúng chính là những phóng tưởng của con, dù bất cứ sự tu tập thiền định nào con đã hành trì khi còn sống, nếu con đã không gặp giáo pháp này, thì giờ đây các ánh sáng đầy màu sắc cũng sẽ đe dọa con được, các âm thanh cũng sẽ làm con hoảng hốt và các chùm tia sáng cũng sẽ làm con kinh hãi. Nếu con không hiểu được điểm cốt yếu này của giáo pháp, con sẽ không nhận ra được những ánh sáng, tia sáng, âm thanh và do đó con sẽ lưu lạc trong cõi sanh tử luân hồi. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), sau bốn ngày rưỡi bất tỉnh (không có ý thức) đây con sẽ tiếp tục cuộc hành trình, và được tỉnh dậy từ sự bất tỉnh con sẽ phân vân tự hỏi điều gì đã xảy ra cho con, cho nên con hãy nhận ra nó chính là trạng thái bardo. Vào lúc đó, cõi sanh tử bị đẩy lùi lại, và mọi thứ con thấy đều xuất hiện dưới dạng ánh sáng và hình ảnh. ÷

“Toàn bộ hư không sẽ chiếu sáng với một ánh sáng xanh và đức Phật Tỳ Lô Giá Na từ cõi Trung Ương, cõi Hiển Lộ Khắp Nơi (the central Realm, All-pervading Circle) xuất hiện trước mặt con. Thân ngài màu trắng, ngài ngự trên ngai sư tử, cầm trong tay một bánh xe có tám nan hoa và ngài đang ôm người phối hợp là Nữ Hoàng Hư Không Kim Cương (The Queen of Vajra Space). Ánh sáng xanh da trời của thức uẩn với sự thanh tịnh cơ bản, tức là Pháp Giới Thể Tánh Trí (the wisdom of the dharmadhatu), trong suốt, rực rỡ, sắc bén, quang minh từ trái tim đức Phật Tỳ Lô Giá Na và người phối hợp chiếu về hướng con và chiếu xuyên qua con khiến cho đôi mắt con không chịu đựng nổi. Cùng lúc, và với ánh sáng đó có ánh sáng trắng êm dịu của chư thiên cũng sẽ hướng về con và xuyên thủng con. Đồng thời chịu ảnh hưởng của nghiệp xấu ác, con sẽ sợ hãi trốn tránh khỏi pháp giới thể tánh trí nơi có ánh sáng xanh da trời rực rỡ, con sẽ cảm thấy một thứ tình cảm vui sướng hướng về ánh sáng trắng êm dịu của các vị trời. Lúc đó con đừng quá kinh hãi, hoảng hốt bởi ánh sáng màu xanh của trí huệ tối thượng rất sắc bén, trong suốt, rực rỡ, quang minh, bởi vì đó là tia sáng của Phật, nó được gọi là pháp giới thể tánh trí. Với lòng chân thành sùng bái tôn thờ, con hãy để tia sáng đó thu hút con, con hãy khẩn cầu, và nghĩ rằng, ‘Đây là tia sáng đại bi của đức Phật Tỳ Lô Giá Na, con xin quy y nương tựa vào ánh sáng đó.’ Như vậy, đức Phật Tỳ Lô Giá Na đích thị đang đến tiếp dẫn con từ trong nẻo đường bardo đầy hiểm nguy, đó chính là tia sáng đại bi của đức Phật Tỳ Lô Giá Na. ÷

“Con đừng ham vui thú với ánh sáng trắng êm dịu, đừng để bị nó lôi cuốn và cũng đừng thương tiếc nó. Nếu con để nó lôi cuốn, con sẽ lang thang ở cõi các vị trời và lưu lạc trong sáu nẻo luân hồi. Đó là một chướng ngại ngăn chặn con đường giải thoát, cho nên con đừng nhìn nó, nhưng con hãy cảm thấy là đang mong ước ánh sáng xanh sáng chói, và với sự tập trung tâm rất cao độ nghĩ đến đức Phật Tỳ Lô Giá Na con hãy lập đi lập lại bài Lời Cầu Nguyện Linh Cảm sau đây : ÷

Vì vô minh dày đặc con lang thang trong luân hồi
sanh tử,
giờ đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Pháp Giới Thể Tánh Trí,
cầu xin đức Phật Tỳ Lô Giá Na đi trước mặt con,
người phối hợp của ngài là Hoàng Hậu Hư Không Kim Cương đi phía sau con ;
xin giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện.” ÷

Bằng cách đọc lời cầu nguyện linh cảm này với lòng sùng mộ sâu sắc, người chết sẽ tan vào trong ánh sáng cầu vồng trong tim của đức Phật Tỳ Lô Giá Na và người phối hợp của ngài, và trở thành một báo thân Phật trong cõi Trung Ương, cõi Hiển Lộ Vô Lượng (the central Realm, The Densely Arrayed). ÷

Nếu ngay cả sau khi nghe đọc lời chỉ bày nhưng vì sự sân hận và tấm màn vô minh điên đảo, ông ta sợ hãi các ánh sáng và tia sáng, và tìm cách trốn thoát, và nếu ông ta vẫn mê lầm dù sau khi đọc lời cầu nguyện, thì vào ngày thứ hai, ông ta cùng với nghiệp bất thiện đưa đến địa ngục, sẽ được bộ nhóm các deities (Bồ tát thần) của Phật Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasattva) đến tiếp dẫn. Cho nên, để chỉ bày cho người chết, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận, không được phân tán. Vào ngày thứ hai, một ánh sáng trắng, thành phần tinh khiết của nước sẽ chiếu sáng, đồng thời đức Kim Cương Tát Đỏa-A Súc Bệ Phật từ cõi Toàn Lạc Phương Đông màu xanh xuất hiện trước mặt con. Thân ngài màu xanh, ngài cầm trong tay một Kim cương sử năm nhánh, ngài ngự trên ngai voi, đang ôm người phối hợp là Phật Mẫu Locana. Ngài được tháp tùng bởi hai vị Bồ tát là Địa Tạng Vương (Ksitigarbha) và Di Lặc (Maitreya) cùng với hai vị nữ Bồ tát là Lasya và Puspa, cho nên có sáu tướng Phật xuất hiện. ÷

“Ánh sáng trắng của sắc uẩn trong tánh thanh tịnh căn bản của nó là Đại Viên Cảnh Trí (trí huệ giống như cái gương), thứ ánh sáng trắng chói chang, quang minh, trong suốt, từ tim của Phật Kim Cương Tát Đỏa và người phối hợp sẽ chiếu về hướng con và xuyên thủng con khiến mắt con không chịu nổi để thấy ánh sáng đó. Cùng lúc, và cùng với ánh sáng trí huệ đó, có ánh sáng màu khói, êm dịu, của chúng sanh địa ngục cũng chiếu rọi về hướng con và xuyên thủng con. Cùng lúc đó, dưới tác động của sân hận, con sẽ sợ sệt cố tránh né ánh sáng trắng sáng chói, con sẽ cảm thấy một tình cảm vui thích hướng về ánh sáng màu khói êm dịu của chúng sanh địa ngục. Vào lúc đó, con đừng sợ ánh sáng trắng trong suốt, rực rỡ, quang minh, sắc sảo, mà hãy nhận ra ánh sáng đó chính là trí huệ. Với lòng sùng mộ mong ước, con hãy để ánh sáng trắng đó thu hút con, và con hãy khẩn cầu với ý nghĩ rằng, ‘Đó là tia sáng của lòng đại bi của Phật Kim Cương Tát Đỏa Thiêng Liêng, con xin quy y nương dựa vào ánh sáng đó.’ Chính ngài Kim Cương Tát Đỏa đang tiếp dẫn con trong nẻo đường bardo đầy sự kinh hoàng ; đó chính là cái móc câu bằng tia sáng của lòng đại bi của đức Kim Cương Tát Đỏa, cho nên con hãy cảm thấy là đang mong cầu nó. ÷

“Con đừng hưởng vui thú trong ánh sáng màu khói êm dịu của chúng sanh địa ngục. Đó là nẻo đường mời gọi của các tấm màn vô minh điên đảo của con, do sân hận mãnh liệt đã tích tụ lại. Nếu con bị nó thu hút lôi kéo, con sẽ rơi xuống địa ngục, chìm vào vũng lầy chứa đầy sự đau khổ không chịu nổi và chẳng cách nào thoát ra được. Nó là chướng ngại ngăn chặn con đường giải thoát cho nên con đừng nhìn nó, mà hãy buông bỏ thù hận. Đừng để nó lôi cuốn con, đừng thương tiếc nó. Con nên cảm thấy là đang mong ước ánh sáng trắng quang minh rực rỡ và với sự tập trung tâm cao độ vào đức Phật Kim Cương Tát Đỏa, con hãy đọc lời khẩn cầu linh cảm sau đây : ÷

Vì thù hận cao độ con lang thang trong sanh tử,
giờ đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Đại Viên Cảnh Trí,
cầu xin đức Phật Kim Cương Tát Đỏa đi trước mặt con,
người phối hợp của ngài, đức Phật Mẫu Locana đi sau lưng con ;
xin giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện.” ÷

Bằng việc đọc lời cầu nguyện linh cảm này với lòng sùng bái sâu sắc, ông ta sẽ tan nhập vào ánh sáng cầu vồng trong tim của đức Phật Kim Cương Tát Đỏa và người phối hợp của ngài và trở nên một báo thân Phật trong Cõi Toàn Lạc phương Đông. ÷

Tuy nhiên ngay cả sau khi nghe lời chỉ bày này, một số người vì kiêu mạn và những tấm màn vô minh điên đảo, họ sợ cái móc câu làm bằng tia sáng lòng đại bi và họ tránh né. Cho nên vào ngày thứ ba, họ cùng với nẻo đường ánh sáng của cõi người sẽ được nhóm các thần của đức Phật Bảo Sanh đến tiếp dẫn. Cho nên, để chỉ dẫn cho người chết lần nữa, người nên gọi tên ông ta và nói những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận không được phân tán. Vào ngày thứ ba, một tia sáng vàng, yếu tố thanh khiết của đất, sẽ chiếu sáng và cùng lúc đó, đức Phật Bảo Sanh từ Cõi Vinh Quang phương Nam màu vàng sẽ xuất hiện trước mặt con. Thân ngài màu vàng, ngài cầm một viên ngọc như ý trong tay, ngồi trên ngai con ngựa, đang ôm người phối hợp là Phật Mẫu Mamaki. Ngài được tháp tùng bởi hai Bồ tát là Aøkasagarbha (Hư Không Tạng Bồ tát) và Samanbhadra (Phổ Hiền Bồ tát) và hai nữ Bồ tát là Mala và Dhupa, do đó có sáu tướng Phật từ không gian của ánh sáng cầu vồng xuất hiện. ÷

“Ánh sáng vàng của thọ uẩn trong tánh thanh tịnh căn bản của nó là Bình Đẳng Tánh Trí (the wisdom of equality), màu vàng sáng chói, trang hoàng với những dĩa ánh sáng quang minh, trong suốt, sáng đến độ mắt không chịu nổi, từ tim của đức Phật Bảo Sanh và người phối hợp chiếu về hướng con và xuyên qua tim con, khiến cho mắt con không thể chịu nổi khi nhìn nó. Cùng lúc và cùng với ánh sáng trí huệ đó, có thứ ánh sáng xanh da trời êm dịu của cõi người cũng xuyên qua tim con, dưới tác động của ngã mạn, con sẽ sợ và cố tránh né ánh sáng vàng trong trẻo, sắc bén, con sẽ cảm thấy có tình cảm vui thú bị lôi cuốn hướng về ánh sáng xanh dịu của cõi người. Ngay lúc đó, con đừng sợ ánh sáng vàng chói lọi, trong suốt, sắc bén quang minh, con hãy nhận ra nó chính là trí huệ. Hãy để tâm con an trú trong nó, buông xả trong một trạng thái vô-tác, và mong ước được nó kéo con vào. Cho dù con không cảm thấy rất sùng mộ và con không đọc lời khẩn cầu cảm ứng, nhưng nếu con nhận ra nó chính là tính sáng chiếu tự nhiên của tự tâm con, thì tất cả các hình tướng, các ánh sáng và các tia sáng sẽ nhập làm một – bất ly – với con, và con sẽ đạt tới giác ngộ. Nếu con không thể nhận ra nó là tính sáng chiếu tự nhiên của tâm con, thì với lòng thiết tha sùng mộ, con hãy khẩn cầu với ý nghĩ rằng, ‘Đó là tia ánh sáng lòng đại bi của đức Phật Bảo Sanh, con xin quy y nương tựa vào ánh sáng đó.’ Đó là cái móc câu bằng tia ánh sáng lòng đại bi của đức Phật Bảo Sanh, nên con hãy cảm thấy đang ao ước mong cầu nó. ÷

“Con đừng hưởng vui thú trong ánh sáng xanh êm dịu của cõi người. Đó là nẻo đường ánh sáng rất cám dỗ của những xu hướng thói quen không có ý thức, do sự ngã mạn cao độ của con kết tụ lại. Nếu con bị nó lôi cuốn vào, con sẽ rơi vào cõi người và kinh qua sanh, lão, bệnh, tử, khổ đau, và con không bao giờ thoát khỏi vũng bùn lầy lội của sanh tử. Nó là chướng ngại ngăn cản con đường giải thoát, cho nên con đừng nhìn nó, con hãy buông bỏ ngã mạn, hãy buông bỏ các xu hướng thói quen không có ý thức của con. Đừng để nó thu hút, đừng thương tiếc nó. Con hãy cảm thấy đang mong ước ánh sáng vàng rực rỡ quang minh, và với sự tập trung nhất tâm cao độ nghĩ đến đức Phật Bảo Sanh, con hãy đọc lời khẩn cầu linh cảm sau đây :

Vì kiêu mạn quá mức con lang thang trong sanh tử,
giờ đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Bình Đẳng Tánh Trí,
cầu xin đức Phật Bảo Sanh đi trước mặt con,
người phối hợp của ngài, đức Phật Mẫu Mamaki đi sau lưng con ;
xin giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện.” ÷

Bằng việc đọc lời khẩn cầu linh cảm này với sự sùng bái sâu sắc, ông ta sẽ tan nhập vào ánh sáng cầu vồng trong tim của đức Phật Bảo Sanh và người phối hợp của ngài và trở nên một báo thân Phật trong cõi phương Nam, Cõi Vinh Quang. ÷

Với sự khai thị chỉ bày như cách này thì chắc chắn được giải thoát, dù những người căn cơ yếu cũng có thể được. Tuy nhiên sau khi được chỉ bày như thế này trong nhiều lần, cũng có những người đã bỏ qua các cơ hội may mắn, chẳng hạn như những người đã làm điều quá ác độc hay đã thoái hóa trong việc hành trì samaya những người đó sẽ không nhận ra được lời khai thị. Vì bị rối loạn bởi lòng tham và những tấm màn vô minh điên đảo, họ sẽ sợ hãi các âm thanh và ánh sáng và họ sẽ trốn đi, cho nên vào ngày thứ tư, những người đó cùng với nẻo đường ánh sáng của quỷ đói do lòng tham và keo kiệt bủn xỉn làm nên, tất cả sẽ được nhóm các thần của đức Phật A Di Đà (The Blessed Amitabha) đến tiếp dẫn họ. Để chỉ bày cho người chết lần nữa, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời này :

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận không được phân tán. Vào ngày thứ tư, một ánh sáng đỏ – đó là yếu tố tinh khiết của lửa, sẽ chiếu sáng và đồng thời đức Phật A Di Đà từ cõi phương Tây màu đỏ, Cõi Cực Lạc (The Blissful) sẽ xuất hiện trước mặt con. Thân ngài màu đỏ, ngài cầm hoa sen trong tay, ngài ngự trên ngai con chim công, ngài đang ôm người phối hợp là Phật Mẫu Pandaravasini. Ngài được tháp tùng bởi hai vị Bồ tát là đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Văn Thù Sư Lợi (Manjusri) và hai vị nữ Bồ tát là Gita và Aloka, khiến cho từ trong không gian ánh sáng cầu vồng có sáu tướng Phật xuất hiện. ÷

“Ánh sáng đỏ của tưởng uẩn trong tánh thanh tịnh căn bản của nó là Diệu Quan Sát Trí (wisdom of discrimination), màu đỏ rực rỡ, được trang hoàng bởi những dĩa ánh sáng quang minh, rõ rệt, sắc bén, óng ánh từ tim của đức Phật A Di Đà và người phối hợp chiếu tới và xuyên qua tim con khiến con không chịu nổi khi nhìn nó. Con đừng sợ ánh sáng đó. Cùng lúc và cùng với ánh sáng trí huệ đó, có một thứ ánh sáng vàng êm dịu của các quỷ đói cũng sẽ chiếu tới. Con đừng thích thú nó ; con hãy buông bỏ tham muốn và thương tiếc. ÷

“Vào lúc đó, dưới tác động của lòng tham muốn quá mức, con sẽ sợ hãi lẩn tránh ánh sáng đỏ rực rỡ, sắc bén ; con sẽ cảm thấy sự vui thích và bị thu hút về ánh sáng vàng êm dịu của quỷ đói. Chính vào lúc đó, con đừng sợ hãi ánh sáng đỏ, sắc bén sáng suốt, quang minh, trong suốt, con hãy nhận ra chính nó là trí huệ. Hãy để tâm con an trú trong nó, buông xả trong trạng thái vô tác. Với lòng chân thành mong cầu được thu hút vào nó. Nếu con nhận ra nó chính là tánh sáng tỏ tự nhiên của riêng con thì dù con không cảm thấy có sự sùng mộ và dù con không đọc lời khẩn cầu linh cảm, thì tất cả các hình tướng và ánh sáng và tia sáng sẽ nhập làm một – bất ly – với con, và con sẽ đạt tới giác ngộ. Nếu với cách này mà con không thể nhận ra nó, thì với lòng sùng mộ, con hãy khẩn cầu với ý nghĩ rằng, ‘Đó là tia ánh sáng lòng đại bi của đức Phật A Di Đà, con xin quy y nương tựa vào ánh sáng đó.’ Đó là cái móc câu bằng tia sáng lòng đại bi của đức Phật A Di Đà. Con hãy cảm thấy có lòng sùng mộ và con đừng trốn thoát. Dù con trốn bỏ đi, nó vẫn sẽ ở – bất ly – với con. ÷

“Con đừng sợ hãi, con đừng bị ánh sáng vàng êm dịu của các quỷ đói thu hút con. Đó là nẻo đường ánh sáng của những xu hướng thói quen không có ý thức do sự tham lam quá độ của con tích tụ lại. Nếu con bị nó lôi cuốn, con sẽ rơi vào cõi quỷ đói và con sẽ trải qua những điều bất hạnh không chịu đựng nổi về đói và khát. Nó là chướng ngại ngăn cản con đường giải thoát, cho nên con đừng để nó lôi cuốn vào, con hãy buông bỏ những xu hướng thói quen không có ý thức của con. Con đừng thương tiếc nó. Con hãy cảm thấy đang mong ước ánh sáng đỏ quang minh rực rỡ và với sự tập trung nhất tâm cao độ hướng về đức Phật A Di Đà và người phối hợp của ngài, con hãy đọc lời khẩn cầu linh cảm sau đây : ÷

Vì tham muốn quá độ con lang thang trong sanh tử,
giờ đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Diệu Quan Sát Trí,
cầu xin đức Phật A Di Đà đi trước mặt con,
người phối hợp của ngài là Phật Mẫu Pandaravasini đi sau lưng con ;
xin giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện.” ÷

Bằng cách đọc lời khẩn cầu linh cảm này với lòng sùng bái sâu sắc, người chết sẽ tan nhập vào trong ánh sáng cầu vồng trong tim của đức Phật A Di Đà Thiêng Liêng, đức Vô Lượng Quang, với người phối hợp của ngài và trở thành một báo thân Phật trong cõi phương Tây, Cõi Cực Lạc. ÷

Bằng cách này thì không thể nào không giải thoát được ; tuy nhiên sau khi khai thị như vậy cũng còn những chúng sanh hữu tình không thể từ bỏ những xu hướng thói quen vô ý thức vì những tập nghiệp lâu đời và dưới ảnh hưởng của tâm ganh tỵ và nghiệp ác độc, họ sợ những âm thanh và ánh sáng ; cái móc câu bằng tia-ánh sáng lòng đại bi không câu bắt họ được nên họ lang thang xuống tới ngày thứ năm trong trạng thái bardo. Đến đây, nhóm các thần của đức Phật Bất Không Thành Tựu cùng với những tia-ánh sáng của lòng đại bi sẽ đến tiếp dẫn họ, và còn có nẻo đường-ánh sáng của các Atula (các bán thiên ganh tỵ) do các cảm tính ganh ghét tạo nên, cũng sẽ đến mời dụ họ. Cho nên, để chỉ bày cho người chết lần nữa, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời sau đây : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận không được phân tán. Vào ngày thứ năm, một thứ ánh sáng xanh lá cây, đó là yếu tố tinh khiết của không khí, sẽ chiếu sáng và đồng thời đức Phật Bất Không Thành Tựu, vị đứng đầu của nhóm từ cõi phương Bắc màu xanh lá cây, cõi Những Hành Động Tích Tập sẽ xuất hiện trước mặt con. Thân ngài màu xanh lá cây, ngài cầm một kim cương sử đôi trong tay và ngồi trên ngai các thần điêu Ca-lâu-la (shang-shang birds) bay lượn trên bầu trời, ngài đang ôm người phối hợp là Phật Mẫu Samaya-Tara. Ngài được hộ tống bởi hai Bồ tát là Kim Cương Thủ (Vajrapani) và Sarvanivaranaviskambhin và hai vị Bồ tát là Gandha và Naivedya, khiến cho từ không gian ánh sáng cầu vồng xuất hiện sáu tướng Phật. ÷

“Ánh sáng màu xanh lục của hành uẩn trong tánh thanh tịnh căn bản của nó là Thành Sở Tác Trí, màu xanh lục quang minh, rực rỡ, trong sáng sắc bén và đáng sợ, được trang hoàng bằng những dĩa ánh sáng, từ tim của đức Phật Bất Không Thành Tựu và người phối hợp chiếu thẳng đến và xuyên qua tim con khiến cho mắt con không chịu đựng nổi để nhìn nó. Con đừng sợ nó. Nó là động tác phô diễn tự nhiên của tự tâm con, cho nên con hãy an trú trong trạng thái vượt khỏi vô tác vô ưu trong đó không có đây kia, không có thương ghét. Đồng thời cùng với ánh sáng trí huệ có một thứ ánh sáng đỏ êm dịu của các Atula do sự ganh ghét gây ra cũng sẽ chiếu sáng đến con. Con hãy thiền định sao cho không có khác biệt giữa thương và ghét. Nhưng nếu con thiếu sáng suốt thì cách đơn giản là con đừng hưởng vui thú trong ánh sáng đỏ êm dịu đó. ÷

“Vào lúc đó, dưới ảnh hưởng của lòng ganh ghét mãnh liệt, con sẽ sợ hãi và trốn khỏi ánh sáng xanh lá cây chói lọi sắc bén, mà con sẽ cảm thấy vui sướng bị thu hút về hướng ánh sáng đỏ êm dịu của các Atula. Ngay lúc đó, con đừng sợ ánh sáng xanh lục quang minh, sắc bén, rực rỡ, trong suốt, mà hãy nhận ra nó chính là trí huệ. Hãy để cho tâm con an trú trong nó, được buông xả, trong một trạng thái vô tác và với lòng sùng mộ con hãy khẩn cầu với ý nghĩ rằng, ‘Đó là tia sáng lòng đại bi của đức Phật Bất Không Thành Tựu, con xin quy y nương tựa vào ánh sáng đó.’ Nó là cái móc câu bằng tia sáng lòng đại bi của đức Phật Bất Không Thành Tựu, được gọi là Thành Sở Tác Trí, cho nên con hãy mong ước nó và đừng lẩn tránh nó. Cho dù con muốn lẩn tránh thì nó vẫn ở – bất ly – với con. ÷

“Con đừng sợ ánh sáng xanh lục đó, con đừng để cho ánh sáng đỏ êm dịu của các Atula thu hút con. Đó là con đường dẫn dụ của nghiệp được tích tụ bởi sự ganh tỵ mãnh liệt của con. Nếu con bị ánh sáng đỏ êm dịu lôi cuốn, con sẽ rơi vào cõi Atula và con sẽ kinh qua sự bất hạnh đau khổ không thể chịu đựng nổi do những cuộc đánh nhau, những mâu thuẫn. Đó là chướng ngại cản trở con đường giải thoát, cho nên con đừng để nó lôi cuốn con vào, con hãy từ bỏ các xu hướng thói quen không có ý thức. Con hãy cảm thấy đang mong chờ ánh sáng xanh lá cây chói lọi rực rỡ và với sự tập trung nhất tâm cao độ hướng về đức Phật Bất Không Thành Tựu và người phối hợp, con hãy đọc lời khẩn cầu linh cảm sau đây : ÷

Vì ganh tỵ mãnh liệt con lang thang trong sanh tử,
giờ đây nương vào con đường ánh sáng quang minh của Thành Sở Tác Trí,
cầu xin đức Phật Bất Không Thành Tựu đi trước mặt con,
người phối hợp của ngài là Phật Mẫu Samaya-Tara đi sau lưng con ;
xin giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con đến trạng thái Phật đà toàn thiện.” ÷

Bằng cách đọc lời khẩn cầu linh cảm này với lòng sùng mộ sâu sắc, người chết sẽ tan nhập vào ánh sáng cầu vồng trong tim của đức Phật Bất Không Thành Tựu và người phối hợp, và trở thành một báo thân Phật trong cõi phương Bắc, cõi những Hành Động Thành Tựu. ÷
Dù cho các thiện nghiệp của ông ta có yếu kém, nhưng với sự chỉ bày như thế này ở trong nhiều giai đoạn, nếu ông ta không nhận ra trong thời điểm này thì sẽ cũng nhận ra ở thời điểm khác, cho nên ông ta không thể nào mà không được giải thoát. Nhưng cả khi được chỉ bày giáo pháp này trong nhiều lần nhưng có những người mà họ đã quá quen với nhiều xu hướng thói quen không có ý thức trong thời gian lâu dài và đã không bao giờ quen với những linh ảnh thanh tịnh của năm trí, thì họ sẽ bị những xu hướng thói quen xấu ác của họ kéo họ lùi lại dù họ đã được chỉ cho thấy, khiến cho cái móc bằng tia sáng lòng đại bi không câu bắt họ được, họ trở nên hoảng hốt sợ hãi các ánh sáng và các tia sáng, họ lang thang xuống các cõi thấp. Nên, vào ngày thứ sáu, các vị Phật trong Năm Bộ với các vị phối hợp, các thần Bồ tát tùy tùng sẽ xuất hiện cùng một lúc, và đồng thời các ánh sáng của sáu cõi cũng sẽ cùng lúc chiếu sáng. ÷

Để khai thị cho người chết, người nên gọi tên ông ta và đọc những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận. Không được phân tán. Cho đến hôm qua, mặc dù con đã được chỉ bày mỗi khi ánh sáng của từng vị Phật trong năm bộ xuất hiện, nhưng con đã bối rối phân vân vì ảnh hưởng của các xu hướng thói quen xấu, nên hôm nay con còn ở lại đây. Nếu con đã nhận ra được tánh chiếu sáng tự nhiên của các trí huệ của năm bộ Phật đó chính là phóng tưởng của riêng con, thì con lẽ ra đã tan nhập được vào ánh sáng cầu vồng trong thân của một trong năm bộ Phật và đã trở thành một báo thân Phật, nhưng vì con đã không nhận ra nên cho đến giờ phút này con còn tiếp tục đi lang thang. Cho nên, giờ đây con hãy nhìn cẩn thận không được phân tán. ÷

“Giờ đây tất cả năm bộ Phật sẽ cùng xuất hiện và cái gọi là bốn trí huệ kết hợp sẽ đến tiếp dẫn con, con hãy nhận ra bốn trí huệ đó. Này thiện nam (tín nữ), bốn thứ ánh sáng màu của bốn yếu tố tinh khiết sẽ chiếu sáng ; cùng một lúc đức Phật Tỳ Lô Giá Na và người phối hợp từ Cõi Trung Ương – Cõi Giới Hiển Lộ Khắp Nơi (the Central Realm, All-pervading Circle) sẽ xuất hiện ngay trước mặt ; đức Phật Kim Cương Tát Đỏa và vị phối hợp và đoàn tùy tùng từ cõi phương đông – Cõi Toàn Lạc (Complete Joy) sẽ xuất hiện ; đức Phật Bảo Sanh và vị phối hợp cùng đoàn tùy tùng từ cõi phương nam, Cõi Vinh Quang (The Glorious) sẽ xuất hiện ; đức Phật A Di Đà với vị phối hợp và đoàn tùy tùng từ cõi Cực Lạc Liên Hoa tây phương sẽ xuất hiện ; và đức Phật Bất Không Thành Tựu với vị phối hợp và đoàn tùy tùng từ cõi phương bắc, cõi Những Hành Động Thành Tựu (Perfected Actions) sẽ xuất hiện, từ không gian của ánh sáng cầu vồng. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), ngoài các vị Phật đó của năm bộ còn có các vị thần xung nộ canh giữ các cổng cũng sẽ xuất hiện như : Vijaya, thần Chiến Thắng ; Yamantaka, kẻ Hủy Diệt Cái Chết ; Hayagriva thần Cổ Ngựa ; và Amrtakundali, thần Bình Đựng Rượu Cam Lồ ; và các nữ thần canh giữ cổng như : Ankusa, nữ thần Cái Móc Câu ; Pasa, nữ thần Cái Thòng Lọng ; Srnkhala, nữ thần Dây xích ; và Ghanta, nữ thần Cái Chuông ; Sáu vị Thánh Thiêng liêng cũng sẽ xuất hiện (the Blessed Ones) như : Indra vị Thánh một trăm hiến tế (Indra of the hundred sacrifices) tức là vị thánh của các vị trời ; Vemacitra, có tên là Vị Áo Choàng Rực Rỡ (Splendid Robe) tức là vị thánh của các Atula ; Sư Tử Vương Sakyas (Lion of the Sakyas), tức là vị thánh của con người ; Dhruvasinha, có tên Sư Tử Kiên Cường (Steadfastlion), tức là vị thánh của súc sanh, Jvalamukha, vị có tên Miệng Rực Lửa (Flaming mouth), tức là vị thánh của các quỷ đói ; và Dharmaraja có tên Pháp Vương (Dharma King) vị thánh của chúng sanh địa ngục. Hai vị Phụ và Mẫu Toàn Thiện (The All Good Father and Mother) của tất cả chư Phật là Samantabhadra và Samantabhadri cũng sẽ xuất hiện. Bốn mươi hai thần ở dạng báo thân sẽ nổi lên từ bên trong tim của chính con và xuất hiện trước mặt con ; các vị là hình tướng thanh tịnh của các phóng tưởng của con, cho nên con hãy nhận ra các vị đó. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), các cõi giới đó cũng không có mặt ở nơi nào khác, mà nằm trong bốn phương hướng của tim con và hướng thứ năm là trung tâm tim, và giờ đây các vị nổi lên từ bên trong tim con và xuất hiện trước mặt con. Các hình ảnh hiện thân của chư vị cũng không từ nơi nào khác đến, nhưng là trò phô diễn nguyên sơ tự phát của tâm con, cho nên con hãy nhận ra các vị theo cách này. Này thiện nam (tín nữ), các hình ảnh đó không lớn không nhỏ, mà cân đối hoàn hảo. Mỗi vị có riêng các sắc phục trang hoàng, màu, tư thế đứng, ngai, biểu tượng. Các vị được bố trí rộng ra thành năm cặp, mỗi cặp đều được bao vòng quanh bằng vầng hào quang của năm ánh sáng màu. Toàn bộ mạn đà la – các thần nam nữ của các bộ – sẽ xuất hiện trọn bộ, tất cả cùng lúc tức thời. Con hãy nhận ra các vị đó, bởi vì họ là những yidam thần bổn tôn của con. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), các tia-ánh sáng của bốn trí huệ từ trong tim của chư Phật trong năm bộ và các vị phối hợp, sẽ chiếu sáng từng tia một lên tim con, rất đẹp và rõ, giống như các chùm tia sáng mặt trời chiếu tới. ÷

“Trước hết, Pháp giới thể tánh trí, đó là một tấm vải đan bằng các tia ánh sáng trắng quang minh, rực rỡ đáng kinh ngạc, từ tim của đức Phật Tỳ Lô Giá Na sẽ chiếu sáng lên tim con. Trong tấm vải dệt bằng các tia ánh sáng này, một cái dĩa trắng lóng lánh sẽ xuất hiện, rất rực rỡ trong sáng, giống như một cái gương hướng mặt xuống, được trang hoàng xung quanh bằng năm dĩa giống như vậy, và năm dĩa này đến lượt được trang trí cũng bằng những cái dĩa và những dĩa nhỏ hơn, cứ thế sao cho không có chỗ nào là trung tâm hay ngoại vi. ÷

“Từ tim của đức Phật Kim Cương Tát Đỏa, trên tấm vải màu xanh da trời quang minh của Đại viên cảnh trí, sẽ xuất hiện một cái dĩa xanh giống như một cái chén màu lam ngọc, hướng mặt xuống, được trang hoàng bằng những cái dĩa và những cái dĩa nhỏ hơn. ÷

“Từ tim đức Phật Bảo Sanh, trên tấm vải vàng của Bình đẳng tánh trí quang minh, sẽ xuất hiện một cái dĩa vàng giống như một cái chén vàng hướng mặt xuống, được trang hoàng bằng những cái dĩa và những cái dĩa nhỏ hơn. ÷

“Từ trong tim đức Phật A Di Đà, trên tấm vải đỏ rực rỡ của Diệu quan sát trí quang minh, sẽ xuất hiện một cái dĩa đỏ lóng lánh giống như một cái chén đỏ màu san hô hướng mặt xuống, chiếu sáng bằng ánh sáng trí huệ sâu sắc, rất rực rỡ trong sáng, được trang hoàng xung quanh bằng năm dĩa giống như vậy, rồi chính năm dĩa này được trang trí bằng những dĩa và những dĩa nhỏ hơn, sao cho không có chỗ nào là trung tâm hay ngoại vi.  

“Chúng sẽ chiếu sáng lên tim con. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), những thứ này cũng đã nổi lên từ trò phô diễn tự phát của tự tâm con, chúng đã không đến từ nơi nào khác ; cho nên con đừng nên ưa thích chúng, con đừng sợ chúng, nhưng con ở yên thư giãn trong một trạng thái thoát khỏi ý niệm. Trong trạng thái đó tất cả các hình ảnh xuất hiện và các tia-ánh sáng sẽ nhập làm một với con và con sẽ đạt tới giác ngộ. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), ánh sáng xanh lục của Thành sở tác trí không xuất hiện bởi vì năng lực trí huệ của con chưa đủ chín mùi. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), điều này được gọi là kinh nghiệm của bốn trí huệ được kết hợp, đó là lối dẫn đường của đức Kim Cương Tát Đỏa. Vào lúc này, con hãy nhớ đến những gì mà vị thầy (guru) của con đã giảng trước đây về sự chỉ bày khai thị. Nếu con nhớ được ý nghĩa của lời khai thị, con sẽ có lòng tin vào những kinh nghiệm trước đó của con và do đó, con sẽ nhận ra chúng, giống như cuộc hội ngộ của mẹ và con, hay giống như gặp lại bạn cũ. Như thể đoạn dứt được nghi ngờ, con sẽ nhận ra các phóng tưởng riêng của con, và đi vào con đường bất biến thanh tịnh của pháp tánh ; và thông qua lòng tin đó một trạng thái thiền định tương tục sẽ khởi lên, và con sẽ tan nhập vào trong một dạng đại trí huệ tự hiện hữu, và con sẽ trở nên một báo thân Phật, không bao giờ rơi trở lại. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), cùng với các ánh sáng trí huệ, còn có các ánh sáng của sáu cõi bất tịnh giả ảo sẽ chiếu sáng : ánh sáng trắng êm dịu của các vị trời, ánh sáng đỏ êm dịu của các Atula, ánh sáng xanh da trời êm dịu của cõi người, ánh sáng xanh lục êm dịu của các súc sanh, ánh sáng vàng êm dịu của các quỷ đói và ánh sáng màu khói êm dịu của chúng sanh địa ngục. Sáu ánh sáng êm dịu này sẽ cùng chiếu sáng với các ánh sáng trí huệ thanh tịnh. Vào lúc đó, con đừng nắm bắt hay bị lôi cuốn bởi bất kỳ ánh sáng nào, con chỉ ở yên, thư giãn trong một trạng thái không bị ý niệm kiềm hãm. Nếu con sợ hãi các ánh sáng trí huệ thanh tịnh và bị lôi cuốn vào các ánh sáng bất tịnh của sáu cõi, con sẽ nhận lấy thân của một chúng sanh trong sáu cõi và con sẽ trở nên kiệt quệ bởi vì không bao giờ có được một lối thoát ra khỏi đại dương đau khổ của sanh tử. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), nếu con không được thầy con khai thị chỉ bày, con sẽ sợ hãi các hình ảnh và các ánh sáng trí huệ thanh tịnh đó, và sẽ bị thu hút vào các ánh sáng bất tịnh của cõi sanh tử ; chớ làm thế, con hãy cảm thấy hết lòng sùng mộ các ánh sáng trí huệ thanh tịnh, sắc bén rực rỡ. Với lòng sùng mộ, con hãy nghĩ rằng, ‘Các tia-ánh sáng trí huệ và đại bi của chư vị Thiêng Liêng tức là chư Phật trong năm bộ vì lòng đại bi đã đến nắm giữ con ; con quy y vào các ngài.’ Con đừng ham thích các ánh sáng của sáu cõi giả ảo, con đừng thương tiếc các ánh sáng đó, nhưng với sự tập trung nhất tâm cao độ vào chư Phật trong năm bộ và các vị phối hợp, con hãy đọc lời khẩn cầu linh cảm sau đây : ÷

Khi vướng vào năm độc con lang thang trong sanh tử,
nay nương vào con đường ánh sáng quang minh của bốn trí huệ kết hợp,
cầu xin các đấng Điều Ngự, Năm Bộ, đi trước mặt con,
chư vị của Năm Bộ đi sau lưng con ;
hãy cứu con thoát khỏi các lối đi ánh sáng của sáu cõi bất tịnh,
xin giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con đến năm cõi Phật tịnh độ.” ÷

Bằng cách đọc lời khẩn cầu linh cảm này, người thượng căn nhận ra các phóng tưởng riêng của ông ta và khi hòa nhập với tánh bất nhị ông ta trở thành một vị Phật ; người trung căn nhận ra chính mình thông qua lòng thiết tha sùng mộ và ông ta đạt tới giải thoát ; ngay cả người hạ căn cũng tránh khỏi sự tái sanh vào sáu cõi nhờ ở năng lực tịnh hóa của lời khẩn cầu đó, và cùng với sự hiểu biết ý nghĩa của bốn trí huệ kết hợp, ông ta đạt tới giác ngộ bằng lối đi của Phật Kim Cương Tát Đỏa. Với sự khai thị rõ ràng chính xác theo cách này, rất nhiều chúng sanh hữu tình sẽ nhận ra và được giải thoát. ÷

Nhưng cũng có một số người, như những người hạ căn ở những nơi man rợ và những người độc ác họ không hề có kinh nghiệm về Phật Pháp và những người đã để sự hành trì samaya bị thoái hóa, giờ đây, tất cả những người đó đã bị nghiệp làm cho họ mê lầm, không nhận ra khi được chỉ bày và lang thang đi xuống. Cho nên vào ngày thứ bảy, các vị Nắm Giữ Trí Huệ Sâu Sắc sẽ từ Cõi Hư Không Thanh Tịnh đến tiếp dẫn họ, và cùng lúc đó, họ cũng sẽ gặp con đường ánh sáng của súc sanh do cảm xúc vô minh sản sinh ra. Vào lúc đó, để khai thị người chết lần nữa, người nên gọi tên ông ta và nói những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận không được xao lãng. Vào ngày thứ bảy một thứ ánh sáng nhiều màu, thanh tịnh sẽ chiếu sáng vào trong tâm không có ý thức (uncon-sciousmind) của con, và các vị Vidyadharas[12]* Nắm Giữ Trí Huệ Sâu Sắc (Trì Minh) từ Cõi Hư Không Thanh Tịnh sẽ đến tiếp dẫn con. Ở trung tâm một mạn đa là chứa đầy ánh sáng cầu vồng một vị có tên là Vidyadhara Vô Song Toàn Phát tức là chúa tể Hoa Sen của Vũ Điệu sẽ xuất hiện, thân ngài sáng rực rỡ năm màu, ngài đang ôm người phối hợp là Dakini Đỏ, ngài đang khiêu vũ tay cầm một cái dao cong và một sọ người chứa đầy máu, mặt và tư thế đang nhìn bầu trời. ÷

“Từ phía đông mạn đà la một vị có tên là Vidyadhara Thiết lập trong Thập Địa[13]** sẽ xuất hiện, màu trắng với một gương mặt tươi cười rạng rỡ, đang ôm người phối hợp là Dakini Trắng, ngài đang khiêu vũ tay cầm một cái dao cong và một sọ người đầy máu, mắt và tư thế đang nhìn chăm chăm vào bầu trời. ÷

“Từ phía nam mạn đà la một vị có tên là Vidyadhara Chúa Tể Cuộc Sống sẽ xuất hiện, màu vàng, với hình tướng đẹp, đang ôm vị phối hợp là Dakini Vàng, ngài đang khiêu vũ tay cầm cái dao cong và một sọ người đầy máu, tư thế và mắt đang nhìn chăm chăm vào bầu trời. ÷

“Từ phía tây mạn đà la một vị có tên là Vidyadhara Đại Ấn (The great symbol) sẽ xuất hiện, màu đỏ, với gương mặt cười rạng rỡ, đang ôm người phối hợp là Dakini Đỏ, ngài đang khiêu vũ tay cầm cái dao cong và một cái sọ người đầy máu, tư thế và mắt đang nhìn chăm chăm vào bầu trời. ÷

“Từ phía bắc mạn đà la một vị có tên là Vidyadhara Khởi Lộ Tự Nhiên sẽ xuất hiện, có màu xanh lục, ngài biểu lộ cùng lúc hai nét mặt giận dữ và mỉm cười, ngài đang ôm người phối hợp là Dakini Xanh, đang khiêu vũ tay cầm cái dao cong và một sọ người đầy máu, tư thế và mắt đang nhìn chăm chăm vào bầu trời. ÷

“Ngoài các vị Vidyadharas đó ra sẽ còn xuất hiện vô số các đám dakinis : dakinis của tám nghĩa địa, dakinis của bốn bộ, dakinis của tam giới, dakinis của mười phương, dakinis của hai mươi bốn nơi hành hương, các nam nữ anh hùng chiến thắng và tùy tùng, và tất cả nam nữ hộ pháp mang sáu trang sức làm bằng xương với trống, kèn làm bằng xương đùi, trống bằng sọ người, các tấm phướn làm bằng da của thanh niên, trướng làm bằng da người, các đan-ten làm bằng da người, hương nhang làm bằng thịt người, vô số các nhạc cụ khác nhau, tràn ngập khắp miền vũ trụ, họ múa quay cuồng làm cho các nhạc cụ rung động thành nhạc như cơ hồ làm bể đầu, họ khiêu vũ theo kiểu khác nhau, tất cả chư vị sẽ đến tiếp dẫn những ai đã giữ gìn sự hành trì samaya và họ sẽ trừng phạt những ai đã để sự hành trì đó biến mất. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), trong cõi không có ý thức, trí huệ uyên nguyên thanh tịnh chiếu sáng bằng ánh sáng ngũ sắc giống như những sợi chỉ màu xoắn lại nhau, phát sáng chói chang, lung linh, trong trẻo, quang minh sắc bén, kinh rợn, trí huệ đó từ tim của năm vị chúa tể Vidyadharas sẽ chiếu tới và xuyên qua tim con khiến mắt con không chịu nổi nó. Đồng thời, ánh sáng xanh lục êm dịu của súc sanh cũng sẽ chiếu cùng với ánh sáng trí huệ. Ngay lúc đó, dưới ảnh hưởng của tâm mê lầm do những xu hướng không có ý thức gây nên, con sẽ sợ hãi và né tránh ánh sáng ngũ sắc và con sẽ ưa thích ánh sáng êm dịu của súc sanh. Lúc này, con đừng sợ ánh sáng ngũ sắc sắc bén rực rỡ ; con đừng sợ nó, mà hãy nhận ra nó chính là trí huệ. ÷

“Từ trong ánh sáng toàn bộ âm thanh tự phát của pháp như tiếng rền vang của ngàn tiếng sấm vỡ. Ánh sáng làm quay vòng, làm rền vang tiếng sấm và vang dội lại với những tiếng hô xông trận, và âm thanh xuyên thấu rất lớn của các mật chú xung nộ. Con đừng sợ nó, con đừøng lẩn tránh, con đừng kinh hãi. Con hãy nhận ra nó là trò phô diễn của tâm con, phóng tưởng của riêng con. Con đừng ưa thích ánh sáng xanh lục êm dịu của súc sanh, con đừng thương tiếc nó ; nếu con bị nó thu hút, con sẽ rơi vào cõi si mê của súc sanh và con sẽ kinh qua sự chịu đựng khổ đau cùng cực vì ngu xuẩn, câm miệng không nói ; làm nô lệ, và từ cõi đó không có lối nào để thoát ra ; cho nên con đừng ưa thích nó. Con hãy cảm thấy đang mong đợi ánh sáng quang minh trong trẻo, có năm màu, và con hãy tập trung nhất tâm vào chư vị Vidyadharas thiêng liêng, tức là các vị thầy thiêng liêng, với ý nghĩ rằng, ‘Chư vị Vidyadharas này cùng với các vị điều ngự, các dakinis đã đến để tiếp dẫn con vào Cõi Hư Không Thanh Tịnh (the Pure Realm of Space). Cầu xin tất cả chư vị nghĩ tưởng đến các chúng sanh hữu tình như con, những chúng sanh đã không tích tụ phước đức và đã không được tiếp dẫn của vô số các Bồ tát thần của Năm bộ Phật trong quá khứ hiện tại và vị lai đã ra tay cứu độ. Xin hãy thương xót cho kẻ như con ! Giờ đây, con cầu xin tất cả chư vị Vidyadharas hãy đừng để con rơi xuống thấp hơn nữa, hãy câu giữ con lại bằng cái móc câu của lòng đại bi và kéo con lên Cõi Hư Không Thanh Tịnh.’ ÷

“Với sự tập trung nhất tâm cao độ, con hãy đọc lời khẩn cầu linh cảm này : ÷
Nguyện cầu chư vị Vidyadharas thiêng liêng hãy nghĩ đến con
và với lòng đại từ hãy dẫn dắt con đi trên đường đạo.
Khi vướng vào các xu hướng mãnh liệt con phải lang thang trong cõi sanh tử,
nay nương vào con đường ánh sáng rực rỡ của trí huệ uyên nguyên,
nguyện cầu chư vị Vidyadharas và các vị điều ngự đi trước mặt con,
các vị phối hợp, các Dakinis đi sau lưng con ;
giúp con vượt qua nẻo đường bardo nguy hiểm
và mang con tới Cõi Hư Không Thanh Tịnh.” ÷

Bằng cách đọc lời khẩn cầu linh cảm này với lòng sùng bái sâu sắc, người chết sẽ tan nhập vào ánh sáng cầu vồng trong tim của các vị Vidyadharas thiêng liêng và được sanh ra trong Cõi Hư Không Thanh Tịnh, chắc chắn không thể nghi ngờ được. Và cũng vậy, tất cả các loại bạn hữu tu tập nhờ kết quả việc này mà nhận ra được và tất cả đều được giải thoát, ngay cả những người dù có những xu hướng mê muội xấu ác, chắc chắn cũng sẽ được giải thoát ở đây. ÷

Đến đây chấm dứt phần đầu của tập luận “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” : sự khai thị chỉ bày linh quang
trong suốt giai đoạn bardo ở thời điểm đối diện
cái chết và sự chỉ bày trong suốt giai đoạn
bardo bình yên của Pháp tánh. ÷
iti ÷ samaya ÷ rgya rgya rgya ÷

Giờ đây là phần giảng về cách thức mà bardo của các thần xung nộ xuất hiện. ÷

Từ trước tới lúc này đã có bảy giai đoạn trong nẻo đường nguy hiểm của thời bardo của các thần bình yên, và nhờ vào sự chỉ bày ở từng mỗi giai đoạn, nên dù ông ta đã không nhận ra ở giai đoạn này thì sẽ nhận ra ở giai đoạn khác và có vô số cơ hội đạt tới giải thoát xảy ra. Mặc dù nhiều người được giải thoát như vậy, nhưng chúng sanh hữu tình nhiều vô số kể, nghiệp bất thiện rất mạnh, tấm màn vô minh điên đảo rất dày và nặng trĩu. Các xu hướng mê muội kéo dài rất lâu và cái vòng luân hồi vô minh và mê lầm này không bị xé rách cũng không tăng thêm, cho nên có rất nhiều chúng sanh không được giải thoát mà phải lang thang xuống dưới nữa dù họ đã được chỉ bày theo lối này một cách chính xác. ÷

Sau khi đã gặp các thần bình yên, chư vị Vidyadharas và dakinis, đến lượt chư vị này lại biến thành ra năm mươi tám thần xung nộ, uống máu, rực lửa xuất hiện. Giờ đây họ không giống như trước đó ; đây là bardo của các thần xung nộ nên người chết sẽ bị áp đảo bởi nỗi sợ hãi cao độ và trở nên rất khó nhận ra. Tâm không còn tự chủ và cảm thấy kiệt quệ ngất xỉu nhưng nếu còn có một ít sự nhận biết thì sự giải thoát sẽ dễ dàng, bởi vì quá đỗi sợ hãi nên tâm không có thời gian để xao lãng và vô tình, nên tâm tập trung nhất tâm. ÷

Nếu giờ đây, người chết không được sự chỉ dẫn của pháp này thì dù có vốn hiểu biết bằng đại dương cũng vô ích. Vào thời điểm này ngay cả những vị thầy tuân thủ giới luật tu viện và các đại học giả cũng đều mê lầm và sẽ không nhận ra nên họ sẽ tiếp tục lang thang trong cõi sanh tử. Những người tầm thường lại càng trầm trọng hơn ; khi lẩn tránh vì sự sợ hãi cao độ này, họ sẽ rơi xuống những cõi thấp hơn và chịu những nỗi khổ đau. Trong khi đó một hành giả tu tập Kim Cương thừa, dù là người tu tập yếu kém nhất trong số người yếu kém thì cũng sẽ nhận ra các thần uống máu đó chính là thần mệnh yidam ngay khi họ thấy, cũng giống như họ gặp lại bạn cũ, nên họ tin vào các thần đó và khi nhập vào – bất ly – với các thần, họ sẽ trở thành một vị Phật. Bí quyết là, khi còn ở cõi người, vị hành giả Kim Cương thừa đã quán tưởng các hình tướng của các thần uống máu này, họ đã thờ cúng các thần đó, và cho dù họ chỉ có nhìn qua các hình ảnh được vẽ trong tranh hay tượng thờ, vân vân, nhưng họ sẽ nhận ra các hình tướng xuất hiện lúc này đây và họ đạt tới giải thoát. ÷

Mặc dù các học giả các vị thầy, khi còn sống, đã có rất nhiều nỗ lực trong việc tuân theo giới luật khi hành trì pháp, và họ rất thông hiểu trong việc giảng giải kinh luận, nhưng khi họ chết cũng không có những dấu hiệu nào như là ngọc xá lợi,[14]* ánh sáng cầu vồng, vân vân. Khi còn sống, họ chê bai các tantras, họ không để tâm đến các tantras, họ không biết tới các thần của tantra, do đó họ không thể nhận ra các thần khi thấy xuất hiện trong bardo. Nên khi bất thình lình thấy các linh ảnh mà trước đây họ không bao giờ thấy, họ cho đó là kẻ thù và họ cảm thấy thù hận với các chư vị, và do đó họ đi xuống các cõi thấp hơn. Đó là lý do tại sao mặc dù các học giả các người tu hành tuân thủ giới luật đã là những người tốt nhưng họ không tu tập tantra nên các dấu hiệu như ngọc xá lợi, ánh sáng cầu vồng không thấy xuất hiện ở họ. ÷

Còn đệ tử của Kim Cương thừa (tantra) dù cho ông ta là người kém nhất, dù ông ta thô bạo lỗ mãng, vô học khi còn sống, thậm chí ông ta đã không có khả năng tu tập tantra nhưng chỉ cần ông ta có lòng tin đối với các tantra, ông ta không hề nghi ngờ hay bất tín tí nào, thì ông ta sẽ đạt giải thoát ở chỗ này ; nên mặc dù ông ta đã cư xử hành động không theo truyền thống đời thường nhưng khi ông ta chết ít nhất cũng có một dấu hiệu như ngọc xá lợi hay ánh sáng cầu vồng xuất hiện. Đó là bởi vì giáo pháp Kim Cương thừa này có oai lực rất lớn lao. ÷
Các vị du-già Kim Cương thừa có trình độ tâm linh trên trung bình, những người đó đã thực hành quán tưởng và thực hành hoàn tất và đã trì tụng các tâm chú, vân vân, sẽ không lang thang xuống xa hơn trong bardo pháp tánh, nhưng ngay khi họ ngưng thở, chư vị Vidyadharas, các vị điều ngự và các dakinis sẽ tiếp dẫn họ đến Cõi Hư Không Thanh Tịnh. Những dấu hiệu cho quả vị này sẽ xuất hiện như là bầu trời trong sáng, họ sẽ tan nhập vào ánh sáng cầu vồng, như là mưa hoa, mùi hương thơm, âm thanh các nhạc cụ nghe được trong không trung, các tia ánh sáng, ngọc xá lợi, vân vân. ÷

Cho nên những người như các triết gia, những người giữ giới luật, những đệ tử theo Kim Cương thừa nhưng để cho việc thực hành samaya bị biến chất và tất cả những người bình thường, sẽ không còn phương tiện nào khác ngoài bộ giáo huấn : “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” này. Các thiền giả đã tu tập phép Đại Ấn và Đại Toàn Thiện[15]* và vân vân, sẽ nhận ra linh quang trong giai đoạn bardo ở thời điểm đối diện cái chết và họ đạt tới pháp thân (dharmakaya) nên đối với họ, không cần phải đọc bộ : “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” này. ÷

Nếu họ nhận ra linh quang trong suốt giai đoạn bardo ở thời điểm đối diện cái chết, họ sẽ đạt tới pháp thân. Nếu họ nhận ra trong suốt giai đoạn bardo của pháp tánh khi các thần bình yên và xung nộ xuất hiện họ sẽ đạt tới báo thân (sambho-gakaya). Nếu họ nhận ra trong suốt giai đoạn bardo thác sanh (the bardo of becoming) họ sẽ đạt tới hóa thân (nirmanakaya) và được sanh ra trong một hoàn cảnh tốt hơn ở đó họ sẽ kinh nghiệm được giáo pháp này ; và vì quả của hạnh nghiệp sẽ tiếp tục ở đời tái sanh nên đó là lý do tại sao giáo pháp “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” này là một pháp đưa tới giác ngộ mà không thiền định, một pháp giúp giải thoát chỉ nhờ vào sự nghe một pháp bằng phương tiện thiện xảo tiếp dẫn người phạm tội lỗi lớn có thể đi vào con đường mật truyền, một pháp chỉ trong khoảnh khắc chấm dứt vô minh, một pháp vi diệu đưa đến sự giác ngộ tức thời và toàn triệt, khiến cho chúng sanh hữu tình khi tiếp cận giáo pháp này rồi thì không thể nào sa đọa xuống cõi thấp hơn. Cả hai pháp : “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” và “Giải Thoát Bằng Cách Đeo và Mặc (vào tử thi)”[16]* cần được đọc lớn tiếng vì hai pháp này kết hợp với nhau như một mạn đà la bằng vàng được khảm bằng màu ngọc lam. ÷

Giờ đây sau khi được giảng cho nghe “Đại Giải Thoát Thông Qua Sự Nghe” là hết sức cần thiết, người hãy chỉ bày cách thức mà bardo của các thần xung nộ xuất hiện. Người hãy gọi tên người chết ba lần rồi hãy nói những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), con hãy lắng nghe không được xao lãng. Mặc dầu bardo của các thần bình yên đã xuất hiện nhưng con không nhận ra, nên con tiếp tục lang thang tới đây. Bây giờ vào ngày thứ tám các thần xung nộ uống máu sẽ xuất hiện. Con hãy nhận ra các vị đó, không được phân tán. ÷

“Này thiện nam (tín nữ), một vị có tên là Heruka Phật Vĩ Đại Vinh Quang (Glorious Great Buddha-Heruka)[17]** sẽ nổi lên từ trong đầu con và xuất hiện trước mặt con rất rõ nét và rất thực : thân ngài màu rượu nho với ba đầu sáu tay và bốn chân soải vươn ra, gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu đỏ và gương mặt ở giữa màu rượu nho ; thân ngài sáng rực như một khối ánh sáng, chín con mắt ngài nhìn chằm chặp vào con với một khí thế xung nộ, chân mày giống như một tia chớp sáng, răng ngài lóe sáng ánh màu đồng, ngài cười lớn với tiếng “a-la-la” và “ha-ha” và phát ra những tiếng huýt sáo lớn như “shoo-oo !” Tóc màu vàng đỏ bay dốc ngược lên và sáng rực, những sọ người khô, mặt trăng và mặt trời kết thành vương miện bao quanh đầu ngài, thân ngài được trang hoàng bằng những con rắn màu đen với các đầu lâu còn tươi, ba tay bên phải tay thứ nhất cầm một bánh xe, tay giữa cầm một cái rìu, tay cuối cầm một cái gươm ; ba tay bên trái tay đầu cầm cái chuông, tay giữa cầm cái lưỡi cày tay cuối cầm cái tách bằng sọ người ; người phối hợp của ngài là Krodhisvari Phật ôm thân ngài, tay phải của bà choàng qua cổ ngài, tay trái của bà cầm một sọ người đầy máu đưa tới miệng ngài ; từ trong cổ họng ngài phát ra những âm thanh ầm ầm như tiếng sấm, những ngọn lửa trí huệ bắn ra từ các sợi lông kim cương đang sáng rực trên toàn thân ngài ; ngài đứng trên cái ngai do các con chim thần garudas (kim xí điểu) đang khiêng ; ngài đứng ở tư thế một cặp chân cong lại và một cặp chân kia duỗi vươn ra. ÷

“Con đừng sợ ngài, đừng kinh hãi, đừng hoảng hốt. Con hãy nhận ra ngài chính là hình tướng của tự tâm con. Ngài là vị yidam (bổn tôn) của con, cho nên con đừng sợ hãi. Ngài thật sự là Phật Tỳ Lô Giá Na cùng với người phối hợp, cho nên con đừng sợ. Nếu con nhận ra con sẽ được giải thoát ngay tức khắc.” ÷

Khi được nghe như vậy người chết sẽ nhận ra yidam (thần bổn tôn) và khi nhập làm một – bất ly – với yidam thì người chết sẽ trở thành một báo thân Phật. ÷

Nhưng nếu ông ta vẫn sợ hãi yidam và lẩn tránh, như vậy ông ta không nhận ra, và rồi, ngày thứ chín, sự biểu lộ của bộ Kim Cương với hình tướng đang uống máu sẽ đến tiếp dẫn người chết, nên người hãy chỉ bày cho ông ta lần nữa, gọi tên ông ta và đọc những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận không được xao lãng. Vào ngày thứ chín, ảnh hiển lộ của bộ Kim Cương gọi là Heruka Kim Cương với hình tướng đang uống máu, sẽ nổi lên từ phía đông của đầu con và sẽ xuất hiện trước mặt con : thân ngài màu xanh da trời đậm, ngài có ba đầu sáu tay và bốn chân dang rộng ra, gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu đỏ, gương mặt ở giữa màu xanh da trời ; với sáu tay, tay thứ nhất bên phải cầm một kim cương sử, tay giữa cầm một cái tách bằng sọ người, tay cuối cầm một cái rìu, tay thứ nhất bên trái cầm một cái chuông, tay giữa cầm một cái tách bằng sọ người, tay cuối cầm một lưỡi cày ; người phối hợp là Kim Cương-Krodhisvari ôm thân ngài, tay phải của bà quàng qua cổ ngài, tay trái của bà đang cầm một cái sọ người đầy máu đưa tới miệng ngài. ÷

“Con đừng sợ ngài, đừng kinh hãi, đừng hoảng hốt. Hãy nhận ra ngài chính là hình tướng của tự tâm con. Ngài là vị yidam của con, cho nên con đừng sợ. Ngài thực sự là đức Phật Kim Cương Tát Đỏa cùng với người phối hợp, cho nên con hãy chí thành sùng mộ. Nếu con nhận ra thì lập tức được giải thoát.” ÷

Khi được nghe như vậy ông ta sẽ nhận ra yidam và khi nhập làm một – bất ly – với yidam, ông ta sẽ trở thành một báo thân Phật. ÷

Nhưng với những người mà nghiệp ác xấu quá lớn sẽ sợ hãi và lẩn tránh yidam, và họ sẽ không nhận ra, rồi thì vào ngày thứ mười, ảnh hiển lộ của bộ Bảo Sanh với hình tướng đang uống máu, sẽ xuất hiện để tiếp dẫn họ. Cho nên để chỉ bày cho người chết lần nữa, người nên gọi tên người chết và đọc những lời này : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe không được xao lãng. Vào ngày thứ mười, ảnh hiển lộ của bộ Bảo Sanh tên là Heruka Bảo Sanh với hình tướng đang uống máu sẽ từ phần phía nam của đầu con xuất hiện trước mặt con : thân ngài màu vàng đậm với ba đầu sáu tay và bốn chân dang rộng ra, gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu đỏ, gương mặt ở giữa sáng rực màu vàng đậm ; với sáu tay, tay thứ nhất bên phải cầm một viên ngọc, tay giữa cầm cái đinh ba có ba đầu người ở trên, tay cuối cầm một cái chùy, ba tay bên trái tay thứ nhất cầm cái chuông, tay giữa cầm một tách bằng sọ người, tay cuối cầm đinh ba ; người phối hợp là Ratna-Krodhisvari đang ôm thân ngài, tay phải của bà choàng qua cổ ngài, tay trái của bà cầm một cái sọ người đầy máu đưa đến miệng ngài. ÷

“Con đừng sợ ngài, đừng kinh hãi, đừng hoảng hốt. Hãy nhận ra ngài chính là hình tướng của tự tâm con. Ngài là yidam của con, cho nên con đừng sợ hãi. Ngài thực sự là đức Phật Bảo Sanh cùng với người phối hợp, cho nên con hãy cảm thấy như đang mong đợi ngài. Nếu con nhận ra con sẽ tức thì được giải thoát.” ÷

Khi được nghe như vậy, ông ta sẽ nhận ra yidam và khi nhập làm một – bất ly – với yidam, ông ta sẽ trở thành một vị Phật. ÷

Nhưng nếu ngay cả khi được chỉ bày như vậy nhưng ông ta bị các xu hướng ác độc, mê muội kéo ông ta lùi lại phía sau và ông ta sợ hãi, lẩn tránh nên không nhận ra yidam, thậm chí khi ông ta thấy Yamantaka, ông ta cũng không nhận ra, nên vào ngày thứ mười một, ảnh hiển lộ của bộ Hoa Sen với hình tướng đang uống máu sẽ đến để tiếp dẫn ông ta. Cho nên để chỉ bày cho ông ta lần nữa, người nên gọi tên người chết và đọc những lời sau : ÷

“Này thiện nam (tín nữ), hãy lắng nghe cẩn thận, đừng xao lãng. Vào ngày thứ mười một, ảnh hiển lộ của bộ Hoa Sen, được gọi là Heruka-Hoa Sen Thiêng Liêng, với hình tướng đang uống máu, từ phần phía tây của đầu con sẽ nổi lên và xuất hiện trước mạët con rất rõ nét trong dạng liên kết với người phối hợp của ngài. Thân ngài màu đỏ đậm với ba đầu sáu tay và bốn chân dang rộng ra ; gương mặt bên phải màu trắng, gương mặt bên trái màu xanh da trời và gương mặt giữa màu đỏ đậm ; với sáu tay, tay thứ nhất bên phải cầm một hoa sen, tay giữa cầm một đinh ba có ba đầu người ở trên, tay cuối cầm một cây gậy. Tay thứ nhất bên trái cầm một cái chuông, tay giữa cầm một tách bằng sọ người đang chứa đầy máu, tay cuối cầm một cái trống ; người phối hợp là Padma-Krodhisvari ôm thân ngài, tay phải của bà choàng qua cổ ngài, tay trái bà đang cầm một sọ người đầy máu đưa tới miệng ngài. ÷

“Con đừng sợ ngài, đừng kinh hãi, đừng hoảng hốt. Con hãy vui sướng, hãy nhận ra ngài chính là hình tướng của tự tâm con. Ngài là yidam của con, cho nên con đừng sợ, đừng kinh hãi. Ngài thực sự là đức Phật A Di Đà Thiêng Liêng cùng người phối hợp, cho nên con hãy cảm thấy mong đợi ngài. Nếu con nhận ra thì ngay lập tức con sẽ được giải thoát.” ÷

Khi được nghe như vậy ông ta sẽ nhận ra hình tướng đó là yidam và khi được nhập làm một – bất ly – với yidam, ông ta sẽ trở thành một vị Phật.

Nguồn: TGVH
(Còn nữa)